Những chính sách mới nổi bật có hiệu lực từ tháng 4/2026

30/03/2026 09:33 AM


Trong tháng 4/2026, nhiều chính sách mới có hiệu lực, nổi bật là các chính sách liên quan đến Luật sở hữu trí tuệ; thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính;…

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ

Luật số 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT năm 2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2026, đã luật hóa các vấn đề liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI).

Luật số 131/2025/QH15 thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Luật SHTT năm 2025 cho phép tổ chức, cá nhân sử dụng dữ liệu SHTT đã công bố để nghiên cứu, thử nghiệm, huấn luyện AI, nhưng phải bảo đảm không gây ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu.

Luật sửa đổi toàn diện các quy định về giới hạn quyền SHTT theo hướng cân bằng hơn với lợi ích công cộng. Việc khai thác và bảo vệ quyền không được xâm phạm lợi ích Nhà nước, xã hội và các chủ thể khác. Luật đặt ra cơ chế xử lý xung đột giữa các quyền SHTT trên cùng một đối tượng, cho phép tòa án chấm dứt quyền phát sinh sau nếu gây cản trở quyền đã được xác lập trước.

Với việc bổ sung Điều 8a, luật cho phép quyền SHTT được sử dụng để góp vốn, thế chấp, đầu tư và thực hiện các giao dịch thương mại, đồng thời yêu cầu chủ sở hữu phải có cơ chế quản trị nội bộ đối với tài sản này. Nhà nước cũng khuyến khích khai thác quyền SHTT nhằm huy động nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh.

Luật cũng thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số trong lĩnh vực SHTT. Khung pháp lý về số hóa toàn diện hoạt động SHTT được thiết lập, bao gồm phát triển hạ tầng số, dịch vụ công trực tuyến, cơ sở dữ liệu về quyền và giao dịch SHTT, cũng như ứng dụng dữ liệu lớn và AI trong xử lý nghiệp vụ, góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả quản lý.

Thay đổi lịch phổ biến một số thông tin thống kê quan trọng

Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP ngày 13/01/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều và phụ lục của Nghị định số 62/2024/NĐ-CP ngày 7/6/2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều phụ lục của Nghị định số 94/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thống kê và Nghị định số 94/2022/NĐ-CP ngày 7/11/2022 của Chính phủ quy định nội dung chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và quy trình biên soạn chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước, chỉ tiêu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 10/4/2026.
Tại Nghị định số 13/2026/NĐ-CP, Chính phủ thay đổi lịch phổ biến một số thông tin thống kê quan trọng của cơ quan thống kê Trung ương so với Nghị định số 62/2024/NĐ-CP ngày 7/6/2024, cụ thể như sau:
Số liệu chính thức chỉ số giá tiêu dùng (CPI) phổ biến vào ngày 3 của tháng kế tiếp sau tháng báo cáo (theo Nghị định số 62/2024/NĐ-CP là ngày 6 của tháng kế tiếp sau tháng báo cáo).
Số liệu ước tính tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ phổ biến vào ngày 3 của tháng kế tiếp sau quý báo cáo (theo Nghị định số 62/2024/NĐ-CP là ngày 6 của tháng kế tiếp sau tháng báo cáo).
Số liệu sơ bộ tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ phổ biến vào ngày 3 của tháng đầu tiên của quý thứ hai sau quý báo cáo (theo Nghị định số 62/2024/NĐ-CP là ngày 06 của tháng đầu tiên của quý thứ hai sau quý báo cáo).
Số liệu ước tính tỷ lệ thất nghiệp phổ biến vào ngày 3 của tháng kế tiếp sau quý báo cáo (theo Nghị định số 62/2024/NĐ-CP là ngày 6 của tháng kế tiếp sau quý báo cáo).
Số liệu sơ bộ tỷ lệ thất nghiệp phổ biến vào ngày 3 của tháng đầu tiên của quý thứ hai sau quý báo cáo (theo Nghị định số 62/2024/NĐ-CP quy định vào ngày 6 của tháng đầu tiên của quý thứ hai sau quý báo cáo).
Báo cáo kinh tế - xã hội tháng, quý I, quý II và 6 tháng, quý III và 9 tháng, quý IV và cả năm phổ biến vào ngày 3 của tháng kế tiếp sau kỳ báo cáo (theo Nghị định số 62/2024/NĐ-CP là vào ngày 6 của tháng kế tiếp sau kỳ báo cáo).
Nghị định số 13/2026/NĐ-CP cũng đẩy lịch công bố số liệu GDP và GRDP lên sớm hơn so với Nghị định số 62/2024/NĐ-CP. Theo đó, đẩy sớm thời gian công bố số liệu GDP từ ngày mùng 6 lên ngày mùng 3 và thời gian công bố số liệu GRDP từ ngày mùng 1 lên ngày 29 của tháng trước.

Thành lập, ban hành Quy chế hoạt động Quỹ phòng thủ dân sự Trung ương

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 09/2026/QĐ-TTg ngày 06/3/2026 về việc thành lập và quy định hoạt động Quỹ phòng thủ dân sự Trung ương do Bộ Quốc phòng quản lý (có hiệu lực thi hành từ ngày 20/4/2026).

Quyết định nêu rõ: Thành lập Quỹ phòng thủ dân sự Trung ương để tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước; nguồn điều tiết từ Quỹ phòng thủ dân sự cấp tỉnh về Quỹ phòng thủ dân sự Trung ương theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và nguồn điều tiết từ các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách có liên quan đến hoạt động ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa.

Quỹ hoạt động theo quy định tại Nghị định số 200/2025/NĐ-CP ngày 9/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng thủ dân sự, bảo đảm công khai, minh bạch, chịu thanh tra, kiểm tra theo quy định.
Quỹ có nhiệm vụ hỗ trợ các hoạt động phòng thủ dân sự mà ngân sách nhà nước chưa đầu tư hoặc đầu tư nhưng chưa đáp ứng yêu cầu; tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn tài chính; thực hiện chế độ báo cáo, kế toán theo quy định tại Nghị định này và pháp luật liên quan.

Quỹ phải chấp hành việc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; công bố công khai về quy chế hoạt động, kết quả hoạt động của Quỹ phòng thủ dân sự, báo cáo tình hình thực hiện quỹ theo quy định tại Quyết định này và pháp luật liên quan.

Trang bị phương tiện chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ cơ giới không bảo đảm bị phạt tới 40 triệu đồng

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 106/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.

Nghị định số 69/2026/NĐ-CP bổ sung một số điểm trong quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Theo quy định mới, phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức, cá nhân sử dụng đối tượng quy định tại các điểm c, d, đ, e và điểm g khoản 1 Điều 45 Luật phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thực hiện nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ nhưng chưa có văn bản thông báo kết quả huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.
Đáng chú ý, với hành vi trang bị phương tiện chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ cơ giới không bảo đảm theo quy định sẽ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính
Nghị định số 61/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định rõ quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/20260).
Dữ liệu do cá nhân, tổ chức thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật cung cấp cho cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thông qua một trong các hình thức sau: Trực tiếp đến trụ sở cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền hoặc hiện trường xảy ra vụ việc để cung cấp hoặc địa điểm khác do người có thẩm quyền quyết định; Thư điện tử, cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) và ứng dụng khác trên thiết bị di động, số điện thoại đường dây nóng được công bố chính thức; Dịch vụ bưu chính; Kết nối, chia sẻ dữ liệu qua nền tảng số hoặc hệ thống tích hợp, chia sẻ dữ liệu theo quy định của pháp luật.
Nghị định nêu rõ cá nhân, tổ chức cung cấp dữ liệu có quyền: Cung cấp dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật cho cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền thuộc các lực lượng theo quy định; Được bảo đảm bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và thông tin cá nhân khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân; Yêu cầu cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền thông báo kết quả xác minh, xử lý dữ liệu đã cung cấp bằng văn bản hoặc qua ứng dụng trên môi trường điện tử.

Cá nhân, tổ chức cung cấp dữ liệu có trách nhiệm: Cung cấp đầy đủ thông tin về họ tên, địa chỉ, phương thức liên lạc trong trường hợp cơ quan, đơn vị tiếp nhận, thu thập dữ liệu cần liên hệ; Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực, toàn vẹn của dữ liệu đã cung cấp; Phối hợp, hỗ trợ cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong quá trình giải quyết vụ việc khi được yêu cầu.
Nghị định quy định thời hạn xác minh không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý xác minh. Đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn xác minh được kéo dài nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý xác minh./.

Thắng Trần