Thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân [Kỳ 1]: BHYT chính sách nhân văn vì sức khỏe Nhân dân
20/03/2026 02:18 PM
Hiện tại bài viết chưa được cập nhật nội dung Âm thanh. Xin cảm ơn.
Trong tiến trình xây dựng, phát triển đất nước, công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Nhân dân luôn được Đảng, Nhà nước xác định là nhiệm vụ trọng tâm, mang ý nghĩa chiến lược lâu dài. Chính sách BHYT không chỉ là một chính sách an sinh xã hội quan trọng, mà còn là biểu hiện sinh động cho bản chất nhân văn của chế độ ta. Trên hành trình hướng tới mục tiêu bao phủ BHYT toàn dân, chính sách này ngày càng khẳng định vai trò là “lá chắn” vững chắc bảo vệ sức khỏe và tài chính cho hàng triệu người dân.
BHYT toàn dân - Bước đi chiến lược hiện thực quyền chăm sóc sức khỏe Nhân dân
Ngay từ rất sớm, Đảng ta đã xác định rõ, chính sách BHYT không chỉ là một trong những trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, mà còn là chính sách nhân văn, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, "không để ai bị bỏ lại phía sau" trong tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiết yếu. Nhiều nghị quyết, chủ trương lớn của Đảng về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân đã đặt BHYT ở vị trí trung tâm, coi đây là công cụ quan trọng để thực hiện các mục tiêu về chăm sóc sức khỏe cho Nhân dân, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, củng cố nền an sinh và phát triển đất nước bền vững.
Những định hướng chiến lược này không chỉ tạo nền tảng lý luận vững chắc cho việc hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật BHYT, mà còn là kim chỉ nam để ngành Y tế và hệ thống BHXH Việt Nam đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, phương thức cung ứng dịch vụ, mở rộng diện bao phủ BHYT và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh BHYT cho người tham gia.
Công tác BHYT trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả nổi bật, là minh chứng rõ nét về tính đúng đắn và hiệu quả trong định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước về công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân, đặc biệt với các văn kiện mang tính lịch sử như: Nghị quyết số 21-NQ/TW (năm 2012) của Bộ Chính trị về tăng cường lãnh đạo đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020; Nghị quyết số 68/2013/QH13 (năm 2013) của Quốc hội khóa XIII về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật BHYT, tiến tới BHYT toàn dân; hay Nghị quyết số 20-NQ/TW (năm 2017) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân trong tình hình mới (Nghị quyết số 20-NQ/TW). Các chủ trương lớn này đã tạo hành lang chính trị quan trọng để các bộ, ngành và địa phương triển khai đồng bộ nhiều chính sách mới, mở rộng diện bao phủ BHYT, tăng quyền lợi người tham gia và từng bước nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh BHYT.
Tiếp theo đó, các văn kiện lớn được ban hành gồm: Nghị quyết số 72-NQ/TW (ngày 09/9/2025) của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá trong chăm sóc sức khỏe Nhân dân (Nghị quyết số 72-NQ/TW); Chỉ thị số 52-CT/TW (ngày 03/10/2025) của Ban Bí thư về tăng cường thực hiện BHYT toàn dân trong giai đoạn mới (Chỉ thị số 52-CT/TW), đã hợp thành một cấu trúc thống nhất về định hướng hành động, đề ra các nhiệm vụ, giải pháp và cơ chế tổ chức thực hiện hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân và chính sách BHYT trong giai đoạn mới. Theo đó, mục tiêu các văn bản quan trọng của Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã hình thành một cấu trúc chính sách đồng bộ, tạo hành lang pháp lý đầy đủ để hiện thực hóa mục tiêu BHYT toàn dân vào năm 2030. Các định hướng này kết nối chặt chẽ với nhau, tạo nên hệ thống chính sách xuyên suốt theo ba trụ cột trọng tâm: Mở rộng độ bao phủ BHYT; nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh; và bảo đảm cân đối quỹ BHYT bền vững. Đây chính là nền tảng cốt lõi, kiến tạo chính sách BHYT và chăm sóc sức khỏe Nhân dân theo hướng phòng bệnh - bền vững - công bằng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Từ các văn kiện này, nhiều nhiệm vụ cụ thể đã được xác định rõ, bao gồm: Tăng cường đầu tư cho y tế cơ sở; đổi mới căn bản cơ chế tài chính y tế; hiện đại hóa quản trị bệnh viện' đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện' mở rộng phạm vi quyền lợi BHYT theo hướng dự phòng, quản lý bệnh mãn tính và chăm sóc sức khỏe liên tục cho Nhân dân.
Chủ trương này thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy chính sách. Nếu trước đây hệ thống y tế chủ yếu vận hành theo cơ chế “phí dịch vụ”, người bệnh phải tự chi trả phần lớn chi phí khám chữa bệnh, thì với chính sách BHYT, Đảng và Nhà nước đã thiết lập một cơ chế chia sẻ rủi ro trong cộng đồng. Người khỏe mạnh đóng góp để hỗ trợ người bệnh; người có thu nhập cao chia sẻ với người thu nhập thấp; thế hệ trẻ góp phần chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi. Đây chính là sự kết hợp hài hòa giữa giá trị truyền thống của dân tộc và mô hình an sinh xã hội hiện đại, khẳng định tính ưu việt của chế độ ta trong việc bảo đảm quyền con người, quyền được chăm sóc sức khỏe của mỗi công dân.
Nhìn lại chặng đường hơn 17 năm triển khai Luật BHYT, có thể thấy rõ những bước tiến vượt bậc của Việt Nam trong việc mở rộng diện bao phủ BHYT. Theo số liệu của BHXH Việt Nam, nếu như năm 2009 - thời điểm Luật BHYT bắt đầu có hiệu lực, tỷ lệ bao phủ BHYT mới đạt 57% dân số, thì đến hết năm 2025, tỷ lệ bao phủ BHYT đã đạt 95,16%, đưa Việt Nam sớm hoàn thành mục tiêu bao phủ BHYT toàn dân trước thời hạn mà Nghị quyết số 20-NQ/TW đã đề ra. Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Ngân hàng Thế giới (World Bank), Việt Nam là một trong những điểm sáng toàn cầu trong việc tiến tới mục tiêu bao phủ BHYT.
Không chỉ tăng về số lượng người tham gia, hệ thống khám chữa bệnh BHYT cũng được mở rộng mạnh mẽ. Hiện nay, cả nước trên 13.000 cơ sở khám chữa bệnh ký hợp đồng khám chữa bệnh BHYT. Mạng lưới này bao phủ từ cơ sở khám, chữa bệnh Trung ương đến xã, phường. Hệ thống y tế cơ sở ngày càng được củng cố, giúp người dân ở vùng sâu, vùng xa vẫn có thể tiếp cận các dịch vụ y tế thiết yếu.
Đằng sau những con số đó là sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, trong việc đưa chính sách BHYT đến với từng người dân, từng hộ gia đình.
Lá chắn tài chính - Bảo vệ người dân trước rủi ro bệnh tật
Một trong những giá trị cốt lõi của BHYT là giúp đảm bảo chăm sóc sức khỏe và bảo vệ tài chính cho người dân, nhất là trong bối cảnh chi phí y tế ngày càng gia tăng. Theo số liệu của BHXH Việt Nam, trong giai đoạn 2016-2024, quỹ BHYT đã chi trả cho hơn 1,48 tỷ lượt khám chữa bệnh, với tổng số tiền hơn 915 nghìn tỷ đồng. Bình quân mỗi năm có khoảng 164,7 triệu lượt khám chữa bệnh BHYT, với chi phí hơn 101 nghìn tỷ đồng. Riêng năm 2025, số lượt khám, chữa bệnh BHYT là 195,1 triệu lượt, với tổng số chi đề nghị thanh toán là 166,4 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 23,5 nghìn tỷ đồng so với số chi khám, chữa bệnh BHYT năm 2024.
Những con số này cho thấy BHYT đã trở thành nguồn tài chính chủ lực của hệ thống y tế, giúp hàng triệu người dân tiếp cận dịch vụ y tế mà không phải chịu gánh nặng chi phí y tế quá lớn. Theo WHO, chi phí y tế là một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến người dân rơi vào nghèo đói ở nhiều quốc gia; ước tính mỗi năm có khoảng 100 triệu người trên thế giới bị đẩy vào cảnh nghèo cùng cực do phải tự gánh chi phí y tế quá lớn.
Tại Việt Nam, nhờ sự phát triển của BHYT, tỷ lệ chi trả trực tiếp từ tiền túi của người dân cho khám chữa bệnh đã giảm đáng kể. Theo thông tin của Bộ Y tế tại Hội thảo lấy ý kiến về định hướng xây dựng Đề án từng bước thực hiện chính sách miễn viện phí, được tổ chức tháng 12/2025, tỷ lệ chi trả trực tiếp từ tiền túi của người dân cho dịch vụ y tế đã giảm đáng kể, từ khoảng 60% tổng chi y tế vào đầu những năm 2000 xuống còn khoảng 40% vào năm 2025.
Đằng sau các số liệu thống kê là hàng triệu câu chuyện đời thường, nơi tấm thẻ BHYT đã trở thành điểm tựa cho nhiều gia đình. Theo số liệu của BHXH Việt Nam, mỗi năm có hàng nghìn trường hợp bệnh nhân được quỹ BHYT chi trả chi phí điều trị lên tới hàng tỷ đồng. Từ năm 2020 đến hết năm 2025, quỹ BHYT đã chi trả cho khoảng 41.188 trường hợp có chi phí khám chữa bệnh BHYT từ 500 triệu đồng đến trên 2 tỷ đồng, với tổng số tiền hơn 33.000 tỷ đồng. Một trường hợp điển hình tại tỉnh Vĩnh Long đã được quỹ BHYT thanh toán hơn 28 tỷ đồng trong 5 năm điều trị các bệnh hiểm nghèo. Qua đó cho thấy tính nhân văn sâu sắc, kịp thời của chính sách BHYT và tầm quan trọng sống còn của việc bảo đảm an toàn, cân đối quỹ BHYT trong dài hạn.
Những con số đó không chỉ phản ánh quy mô của chính sách, mà còn cho thấy ý nghĩa nhân văn sâu sắc: BHYT đã giúp nhiều gia đình vượt qua những thời điểm khó khăn nhất, giữ lại cơ hội sống cho người bệnh. Tại nhiều bệnh viện tuyến Trung ương, không hiếm những trường hợp bệnh nhân được chi trả chi phí điều trị lên tới hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ đồng. Nếu không có thẻ BHYT, những khoản chi phí khám chữa bệnh này có thể trở thành gánh nặng rất lớn, bởi đã vượt quá khả năng kinh tế của nhiều gia đình người bệnh.
Cơ chế chia sẻ cộng đồng - Giá trị nhân văn cốt lõi
Một trong những điểm nổi bật của chính sách BHYT tại Việt Nam là sự quan tâm đặc biệt đến các nhóm yếu thế trong xã hội. Hiện nay, Nhà nước hỗ trợ 100% mức đóng BHYT cho nhiều nhóm đối tượng như: Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn. Đồng thời, hỗ trợ 70% cho hộ cận nghèo và từ 30-50% cho học sinh, sinh viên và người lao động khu vực nông, lâm, ngư nghiệp có mức sống trung bình.
Nhờ chính sách này, hàng chục triệu người dân thuộc nhóm dễ bị tổn thương vẫn có thể tham gia BHYT và được bảo vệ trước rủi ro bệnh tật. Đây chính là biểu hiện rõ nét của nguyên tắc công bằng trong chăm sóc sức khỏe Nhân dân, đồng thời thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, quyền bình đẳng cho mọi người dân.
Bên cạnh đó, để bảo đảm sự phát triển bền vững của quỹ BHYT, hệ thống BHXH Việt Nam và ngành Y tế đang triển khai nhiều giải pháp đổi mới mạnh mẽ. Một trong những bước tiến quan trọng là đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực BHYT. Hiện nay, việc sử dụng căn cước công dân gắn chíp, ứng dụng VNeID và ứng dụng VssID đã giúp người dân có thể đi khám chữa bệnh BHYT mà không cần mang theo thẻ BHYT giấy.
Theo BHXH Việt Nam, đến cuối năm 2025, toàn Hệ thống đã xác thực hơn 100,2 triệu thông tin công dân với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; trong đó 99,59 triệu người tham gia và thụ hưởng BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp đã được định danh và xác thực, đạt 99,6%; riêng tỷ lệ người tham gia BHYT có căn cước công dân được xác thực đúng với dữ liệu dân cư đạt 99,43%. Không dừng lại ở đó, hệ thống dữ liệu khám chữa bệnh BHYT cũng đang được liên thông mạnh mẽ. BHXH Việt Nam đã phối hợp triển khai sổ sức khỏe điện tử, giấy chuyển tuyến và giấy hẹn khám lại, với 578 triệu lượt dữ liệu khám chữa bệnh được gửi từ các cơ sở y tế lên Hệ thống giám định BHYT.
Song song với đó, Hệ thống giám định BHYT của BHXH Việt Nam đang giúp cơ quan này quản lý hiệu quả chi phí khám chữa bệnh BHYT, hạn chế tình trạng lạm dụng hoặc trục lợi quỹ BHYT, đảm bảo quyền lợi cho người có thẻ. Bên cạnh đó, ngành Y tế cũng đang triển khai nhiều mô hình mới nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ như: Bệnh viện vệ tinh; khám chữa bệnh từ xa (Telehealth); hồ sơ bệnh án điện tử; thanh toán theo nhóm chẩn đoán (DRG). Những cải cách này không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ BHYT mà còn giúp người dân được tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng hơn.
Hướng tới mục tiêu bao phủ BHYT toàn dân bền vững
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chính sách BHYT cũng đang đối mặt với nhiều thách thức. Trước hết là vấn đề già hóa dân số, kéo theo nhu cầu chăm sóc sức khỏe tăng cao, đặc biệt đối với các bệnh mạn tính. Thứ hai là sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm như: Tim mạch, ung thư, tiểu đường - những bệnh có chi phí điều trị lớn. Cùng với đó, giá dịch vụ y tế và công nghệ y học ngày càng cao cũng tạo áp lực lớn đối với quỹ BHYT. Việc cân đối quỹ trong dài hạn đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả.
Theo dự báo của các chuyên gia y tế, chi phí khám chữa bệnh trong những năm tới sẽ tiếp tục tăng do nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao và sự phát triển nhanh của công nghệ y học. Trong bối cảnh mới, việc duy trì và mở rộng độ bao phủ BHYT toàn dân không chỉ là nhiệm vụ của ngành Y tế hay BHXH Việt Nam, mà cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của toàn xã hội.
Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan nhấn mạnh: “BHYT là một trong những chính sách xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực y tế. Việc mở rộng bao phủ BHYT toàn dân không chỉ nhằm bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân, mà còn góp phần thực hiện công bằng xã hội trong tiếp cận dịch vụ y tế, không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Để phát triển BHYT bền vững, Phó Giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Đức Hòa khẳng định, cần dựa trên ba trụ cột: Mở rộng bao phủ để tăng nguồn thu quỹ BHYT ổn định; kiểm soát chi hợp lý và đổi mới căn bản cơ chế chi trả. Quỹ BHYT được hình thành từ sự đóng góp của cộng đồng và sự hỗ trợ của Nhà nước, vì vậy việc quản lý, sử dụng quỹ phải bảo đảm công khai, minh bạch, đúng mục đích và hiệu quả. Hiện nay, hệ thống BHXH Việt Nam đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, hoàn thiện Hệ thống giám định BHYT nhằm bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho người tham gia và góp phần sử dụng, quản lý quỹ BHYT bền vững.
Trong hành trình xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện, chính sách BHYT đã và đang khẳng định vai trò là một trụ cột đặc biệt quan trọng, bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của mỗi người dân. Không chỉ là cơ chế tài chính y tế, BHYT còn là biểu hiện sinh động của bản chất nhân văn trong các chính sách an sinh xã hội nhân văn của Đảng và Nhà nước - nơi tinh thần sẻ chia cộng đồng được thể chế hóa bằng những quy định cụ thể, thiết thực. Khi mỗi tấm thẻ BHYT được trao đến tay người dân, đó cũng là lúc một “lá chắn” bảo vệ sức khỏe và tài chính cho hàng triệu gia đình được hình thành./.
Kỳ 2: Mở rộng BHYT, cần sự vào cuộc cả hệ thống chính trị.
Thái Dương
Chi tiết >>
BHXH Việt Nam năm 2025: Tinh gọn, hiệu quả, phục ...
Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác ...
Video: Đại hội đại biểu Công đoàn cơ quan BHXH ...
Từ ngày 01/01/2026: Nhiều điểm mới quan trọng về ...
Tham gia, thụ hưởng chế độ, chính sách BHXH, BHYT ...
Bạn có thể cho biết ý kiến về thông tin cung cấp trên Cổng thông tin của BHXH Việt Nam?
Bạn có hài lòng với nội dung thông tin cung cấp trên Cổng thông tin BHXH Việt Nam?