Kết nối dữ liệu - Đòn bẩy nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội
06/08/2026 09:13 AM
Hiện tại bài viết chưa được cập nhật nội dung Âm thanh. Xin cảm ơn.
Dữ liệu đang trở thành nền tảng của quản trị hiện đại và là động lực quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia. Trong bối cảnh Bộ Nội vụ đang xây dựng Dự thảo Nghị định quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội, việc hoàn thiện cơ chế xây dựng, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, chất lượng phục vụ người dân và thúc đẩy hình thành hệ sinh thái an sinh xã hội số.
Dữ liệu số - Nền tảng của quản trị an sinh xã hội hiện đại
Trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, dữ liệu không còn đơn thuần là công cụ lưu trữ thông tin mà đã trở thành nguồn lực quan trọng của quản trị hiện đại. Dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và khai thác hiệu quả sẽ giúp nâng cao chất lượng hoạch định chính sách, hiệu quả quản lý, đồng thời tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ công nhanh chóng, thuận tiện hơn.
Đối với lĩnh vực an sinh xã hội, dữ liệu có vai trò đặc biệt quan trọng khi liên quan trực tiếp đến việc tổ chức thực hiện các chính sách về BHXH, BHYT, BHTN, trợ giúp xã hội, ưu đãi người có công với cách mạng, giảm nghèo, trẻ em... Chất lượng dữ liệu không chỉ quyết định hiệu quả quản lý mà còn bảo đảm việc xác định đúng đối tượng, chi trả chính xác, kịp thời và minh bạch.
Nhằm xây dựng nền tảng dữ liệu thống nhất phục vụ quản lý và giải quyết chính sách an sinh xã hội, ngày 25/5/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 708/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội, ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết chính sách an sinh xã hội đến năm 2020 và định hướng phát triển đến năm 2030. Đề án hướng tới mục tiêu đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm giấy tờ công dân và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến.
Sau gần một thập kỷ triển khai, nhiều bộ, ngành đã xây dựng và đưa vào vận hành các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ công tác quản lý. Trong lĩnh vực an sinh xã hội, bên cạnh Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, nhiều cơ sở dữ liệu chuyên ngành cũng từng bước được hoàn thiện như cơ sở dữ liệu về người tham gia, thụ hưởng BHXH, BHYT, BHTN do BHXH Việt Nam quản lý; cơ sở dữ liệu về người có công với cách mạng, đối tượng trợ giúp xã hội, trẻ em, hộ nghèo, hộ cận nghèo... Đây là những nguồn dữ liệu quan trọng, tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi từ quản lý truyền thống sang quản lý trên môi trường số.
Tuy nhiên, các cơ sở dữ liệu hiện vẫn chủ yếu được xây dựng theo từng ngành, từng lĩnh vực và chưa hình thành cơ chế kết nối, chia sẻ thống nhất. Việc dữ liệu còn phân tán khiến công tác khai thác, đối soát, xác minh thông tin giữa các cơ quan gặp nhiều khó khăn; người dân vẫn phải nhiều lần cung cấp cùng một loại thông tin khi thực hiện thủ tục hành chính, ảnh hưởng đến hiệu quả cải cách hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực an sinh xã hội.
Yêu cầu xây dựng nền tảng dữ liệu thống nhất càng trở nên cấp thiết khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết xác định dữ liệu là một trong những nội dung trọng tâm, cốt lõi của chuyển đổi số quốc gia, cùng với thể chế, nhân lực, hạ tầng và công nghệ chiến lược. Tiếp đó, Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW ngày 19/6/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã xác định phát triển dữ liệu là một trong những nhóm nhiệm vụ trọng tâm, đồng thời yêu cầu chuẩn hóa, kết nối các cơ sở dữ liệu quan trọng, xây dựng nền tảng dùng chung phục vụ chuyển đổi số trong toàn hệ thống chính trị. Ngày 23/6/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 11/2026/QĐ-TTg ban hành Danh mục cơ sở dữ liệu quốc gia, trong đó Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội được xác định là một trong 12 cơ sở dữ liệu quốc gia. Có thể thấy, việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội không chỉ nhằm số hóa thông tin mà hướng tới hình thành nền tảng dữ liệu liên thông, phục vụ đồng thời nhiều mục tiêu quản lý và cung cấp dịch vụ công. Đây sẽ là tiền đề quan trọng để tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và từng bước xây dựng hệ sinh thái an sinh xã hội số hiện đại, lấy người dân làm trung tâm phục vụ.
Phát huy giá trị dữ liệu trong thực hiện chính sách an sinh xã hội
Việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội thực sự phát huy hiệu quả khi các cơ sở dữ liệu chuyên ngành được chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ đồng bộ. Trong đó, cơ sở dữ liệu về BHXH, BHYT và BHTN do BHXH Việt Nam quản lý là một trong những nguồn dữ liệu có quy mô lớn, được cập nhật thường xuyên, đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái dữ liệu an sinh xã hội.
Thực hiện chủ trương chuyển đổi số quốc gia và Đề án 06 của Chính phủ, những năm qua BHXH Việt Nam đã tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung về người tham gia, người thụ hưởng các chính sách BHXH, BHYT, BHTN; đồng thời đẩy mạnh kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin của các bộ, ngành. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, cải cách thủ tục hành chính và nâng cao chất lượng phục vụ người dân.
Đến hết tháng 6/2026, BHXH Việt Nam đã xác thực hơn 100,2 triệu thông tin công dân trong cơ sở dữ liệu do ngành quản lý với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đây là bước tiến quan trọng trong chuẩn hóa dữ liệu theo số định danh cá nhân, góp phần nâng cao chất lượng cơ sở dữ liệu, tạo nền tảng cho việc kết nối, chia sẻ và khai thác thông tin giữa các cơ quan nhà nước; đồng thời hạn chế yêu cầu người dân phải kê khai, cung cấp lại những thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu khi thực hiện thủ tục hành chính.
Trên nền tảng dữ liệu đã được chuẩn hóa, nhiều tiện ích số đã được triển khai, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân. Đến nay, 100% cơ sở khám, chữa bệnh BHYT trên toàn quốc đã triển khai tiếp nhận người bệnh bằng căn cước công dân gắn chip hoặc thông qua ứng dụng định danh điện tử VNeID. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, Hệ thống thông tin giám định BHYT đã thực hiện hơn 405,3 triệu lượt tra cứu thông tin thẻ BHYT bằng số định danh cá nhân hoặc căn cước công dân, góp phần rút ngắn thời gian làm thủ tục, giảm giấy tờ và nâng cao chất lượng phục vụ người tham gia BHYT.
Không chỉ hỗ trợ tiếp nhận người bệnh, dữ liệu BHYT còn được khai thác hiệu quả trong xây dựng hệ sinh thái y tế số. Đến hết tháng 6/2026, Hệ thống thông tin giám định BHYT đã tiếp nhận hơn 692,8 triệu lượt dữ liệu khám, chữa bệnh từ các cơ sở y tế trên toàn quốc và thực hiện hơn 265,7 triệu lượt tra cứu thành công thông tin phục vụ tích hợp hồ sơ sức khỏe điện tử, giấy chuyển tuyến và giấy hẹn khám lại trên ứng dụng VNeID. Những kết quả này góp phần tăng cường liên thông dữ liệu giữa ngành BHXH và ngành Y tế, tạo nền tảng để mở rộng các dịch vụ số phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe người dân.
Hiệu quả của chuyển đổi số cũng được thể hiện rõ qua cải cách thủ tục hành chính. Trong 6 tháng đầu năm 2026, BHXH Việt Nam đã tiếp nhận và giải quyết hơn 12,17 triệu hồ sơ thủ tục hành chính, trong đó hơn 82% hồ sơ được tiếp nhận qua giao dịch điện tử. Việc mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến không chỉ giúp giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục cho người dân, doanh nghiệp mà còn nâng cao tính công khai, minh bạch và hiệu quả trong tổ chức thực hiện chính sách.
Đến hết tháng 6/2026, cả nước có 22,23 triệu người tham gia BHXH, 17,56 triệu người tham gia BHTN và 98,68 triệu người tham gia BHYT. Với quy mô gần 100 triệu người tham gia và thụ hưởng các chính sách an sinh xã hội, cơ sở dữ liệu của BHXH Việt Nam hiện là một trong những cơ sở dữ liệu chuyên ngành có quy mô lớn nhất cả nước, được cập nhật thường xuyên từ quá trình tổ chức thực hiện chính sách. Đây là nguồn dữ liệu quan trọng để kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác, góp phần hình thành Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội theo định hướng của Chính phủ.
Có thể khẳng định, những kết quả chuyển đổi số của BHXH Việt Nam thời gian qua đã cho thấy giá trị của dữ liệu khi được chuẩn hóa, kết nối và khai thác hiệu quả. Đây cũng là nền tảng thực tiễn quan trọng để triển khai Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, thúc đẩy cải cách hành chính và xây dựng nền an sinh xã hội số hiện đại.
Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hệ sinh thái dữ liệu an sinh xã hội
Thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ về phát triển dữ liệu phục vụ chuyển đổi số quốc gia, đồng thời phát huy hiệu quả các cơ sở dữ liệu đã được xây dựng trong lĩnh vực an sinh xã hội, việc hoàn thiện hành lang pháp lý về quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu có ý nghĩa quan trọng, tạo nền tảng để hình thành hệ sinh thái dữ liệu an sinh xã hội thống nhất, đồng bộ và hiện đại.
Trên cơ sở đó, Bộ Nội vụ đang xây dựng Dự thảo Nghị định quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc xây dựng, quản lý, vận hành, kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội; đồng thời cụ thể hóa các quy định của Luật Dữ liệu và các quy định pháp luật có liên quan.
Một trong những điểm mới đáng chú ý của Dự thảo là xác lập rõ vị trí, vai trò của Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội với tư cách là cơ sở dữ liệu quốc gia dùng chung trong lĩnh vực an sinh xã hội. Theo Dự thảo, cơ sở dữ liệu này có chức năng lưu trữ, tổng hợp, tham chiếu và chia sẻ thông tin về đối tượng an sinh xã hội; được hình thành trên cơ sở kết nối, tích hợp và đồng bộ dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu thành phần và các cơ sở dữ liệu có liên quan, sử dụng số định danh cá nhân làm khóa kết nối thống nhất. Đây sẽ là nền tảng phục vụ công tác quản lý nhà nước, hoạch định chính sách, cung cấp dịch vụ công và tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội trên môi trường điện tử.
Đáng chú ý, Dự thảo quy định việc xây dựng cơ sở dữ liệu theo nguyên tắc kế thừa tối đa dữ liệu đã có, khai thác thông tin từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành; không yêu cầu thu thập lại những thông tin công dân đã được cơ quan nhà nước quản lý. Dữ liệu được quản lý theo tiêu chí "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung", đồng thời phải được cập nhật thường xuyên, bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả giữa các cơ quan, đơn vị.
Đối với lĩnh vực bảo hiểm, Dự thảo xác định Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm, bao gồm dữ liệu về BHXH và BHYT, là một trong những cơ sở dữ liệu được kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội. Quy định này có ý nghĩa quan trọng, bởi cơ sở dữ liệu của ngành BHXH Việt Nam hiện là một trong những hệ thống dữ liệu chuyên ngành có quy mô lớn, được cập nhật thường xuyên, phản ánh toàn diện quá trình tham gia và thụ hưởng các chính sách BHXH, BHYT, BHTN của người dân. Việc kết nối, chia sẻ nguồn dữ liệu này sẽ góp phần nâng cao chất lượng thông tin, hạn chế trùng lặp dữ liệu và hỗ trợ hiệu quả công tác tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội.
Dự thảo cũng mở rộng quyền tiếp cận và khai thác dữ liệu theo hướng lấy người dân làm trung tâm. Theo đó, người dân có thể khai thác thông tin của mình thông qua Cổng thông tin về an sinh xã hội, Cổng Dịch vụ công quốc gia, ứng dụng định danh điện tử VNeID và các phương thức khác theo quy định của pháp luật; đồng thời có quyền phản ánh, đề nghị cập nhật khi phát hiện thông tin chưa chính xác. Đây là bước tiến quan trọng nhằm tăng cường tính minh bạch, nâng cao chất lượng dữ liệu và phát huy vai trò giám sát của người dân trong quá trình thực hiện chính sách.
Có thể thấy, việc xây dựng và ban hành Nghị định không chỉ nhằm hình thành một cơ sở dữ liệu mới mà quan trọng hơn là tạo nền tảng pháp lý để các bộ, ngành, địa phương chuẩn hóa, kết nối và khai thác hiệu quả các nguồn dữ liệu hiện có. Khi dữ liệu được chia sẻ trên một nền tảng thống nhất, các quy trình giải quyết thủ tục hành chính sẽ tiếp tục được tái cấu trúc theo hướng khai thác dữ liệu thay cho yêu cầu người dân cung cấp hồ sơ, giấy tờ; qua đó rút ngắn thời gian giải quyết, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao chất lượng dịch vụ công.
Với những nền tảng dữ liệu đã được xây dựng trong nhiều năm qua, đặc biệt là cơ sở dữ liệu quy mô lớn của BHXH Việt Nam cùng hệ thống dữ liệu của các bộ, ngành, việc sớm hoàn thiện hành lang pháp lý sẽ tạo điều kiện để phát huy tối đa giá trị của dữ liệu trong quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện chính sách. Xa hơn, đây sẽ là tiền đề quan trọng để xây dựng hệ sinh thái dữ liệu an sinh xã hội đồng bộ, hiện đại, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia và thực hiện hiệu quả mục tiêu xây dựng nền an sinh xã hội bền vững, lấy người dân làm trung tâm phục vụ./.
Thu Thuỷ
Chi tiết >>
(Video): Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn làm ...
Bảo hiểm y tế - lá chắn cho sức khỏe mỗi ...
BHXH Việt Nam tổ chức Hội nghị sơ kết công tác ...
Khi người thầy trở thành cầu nối lan tỏa chính sách an sinh
Tiếp tục hoàn thiện quy định về ngành, nghề đầu tư kinh ...
BHXH Việt Nam - Kho bạc Nhà nước: Nâng tầm phối hợp, đẩy ...
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách BHXH, BHYT ...
Bản tin Audio số 124 - tháng 8/2026
Bạn có thể cho biết ý kiến về thông tin cung cấp trên Cổng thông tin của BHXH Việt Nam?
Bạn có hài lòng với nội dung thông tin cung cấp trên Cổng thông tin BHXH Việt Nam?