Các bệnh liên quan đến thuốc lá tiêu tốn quỹ BHYT hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm
23/07/2026 11:06 AM
Hiện tại bài viết chưa được cập nhật nội dung Âm thanh. Xin cảm ơn.
Trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực mở rộng độ bao phủ BHYT và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, tác hại của thuốc lá tiếp tục là một thách thức lớn, không chỉ đối với sức khỏe cộng đồng mà còn gây áp lực nặng nề lên quỹ BHYT và nền kinh tế. Những con số thống kê mới nhất cho thấy, mỗi năm thuốc lá cướp đi hơn 100.000 sinh mạng và tiêu tốn hàng nghìn tỷ đồng chi phí khám, chữa bệnh từ quỹ BHYT.
Sáng 21/7, tại trụ sở Bộ Y tế, GS, TS Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội đồng Y khoa Quốc gia đã chủ trì cuộc họp Tổ soạn thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá. Cuộc họp tập trung đánh giá thực trạng, nhận diện những bất cập trong quy định hiện hành, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát thuốc lá trong tình hình mới.
Gánh nặng bệnh tật và chi phí y tế lớn
Theo kết quả điều tra STEPS năm 2021, tỷ lệ người trưởng thành hút thuốc lá tại Việt Nam là 20,8%, tương đương khoảng 15,8 triệu người. Đáng chú ý, tỷ lệ hút thuốc ở nam giới lên tới 41,1%, trong khi ở nữ giới chỉ chiếm 0,6%. So với năm 2010, tỷ lệ này đã giảm từ 23,8% xuống 20,8%. Tuy nhiên, mức giảm hơn 3 điểm phần trăm sau hơn một thập kỷ được đánh giá là còn chậm, chưa đạt kỳ vọng đặt ra.
Ở nhóm thanh thiếu niên từ 13-17 tuổi, tỷ lệ hút thuốc lá truyền thống đã giảm đáng kể, từ 5,36% năm 2013 xuống còn 2,78% vào năm 2019. Dù vậy, các chuyên gia y tế cảnh báo xu hướng gia tăng sử dụng thuốc lá điện tử trong giới trẻ đang nổi lên như một thách thức mới, tiềm ẩn nguy cơ đảo ngược những kết quả đã đạt được trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Việt Nam hiện vẫn nằm trong nhóm 15 quốc gia có tỷ lệ nam giới trưởng thành hút thuốc cao nhất thế giới và đứng thứ ba trong khu vực ASEAN. Đây là thực trạng đáng lo ngại khi thuốc lá được xác định là nguyên nhân gây ra hàng loạt bệnh không lây nhiễm nguy hiểm như ung thư phổi, bệnh tim mạch, đột quỵ, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính... đồng thời là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong có thể phòng tránh.
Theo ước tính từ Nghiên cứu Gánh nặng bệnh tật toàn cầu do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trích dẫn, mỗi năm Việt Nam ghi nhận hơn 100.000 ca tử vong liên quan đến thuốc lá. Trong đó, khoảng 84.500 người tử vong do hút thuốc trực tiếp và gần 18.800 người tử vong do tiếp xúc thường xuyên với khói thuốc thụ động.
Không chỉ gây tổn thất lớn về con người, thuốc lá còn tạo ra gánh nặng kinh tế rất đáng kể. Năm 2022, tổng chi phí y tế và tổn thất kinh tế do thuốc lá gây ra ước tính lên tới 108,7 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 1,14% GDP. Đáng chú ý, chi phí do tử vong sớm chiếm tới 79% tổng gánh nặng kinh tế.
Riêng đối với quỹ BHYT, chi phí điều trị các bệnh liên quan đến thuốc lá lên tới 8,3 nghìn tỷ đồng năm 2019 và tăng lên 8,7 nghìn tỷ đồng vào năm 2022, chiếm khoảng 7,5% tổng chi từ quỹ. Bên cạnh đó, chi tiêu trực tiếp từ hộ gia đình cũng ở mức cao, với 7,7 nghìn tỷ đồng năm 2019 và 8,1 nghìn tỷ đồng năm 2022. Những con số này cho thấy, tác hại của thuốc lá không chỉ dừng lại ở lĩnh vực y tế mà còn lan rộng, ảnh hưởng đến an sinh xã hội và sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Hoàn thiện hành lang pháp lý, kiểm soát thuốc lá thế hệ mới
Theo Ban soạn thảo, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá hiện hành vẫn còn những khoảng trống pháp lý, đặc biệt là chưa có quy định cụ thể về thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng cũng như chưa có cơ chế quản lý, xử lý vi phạm đối với các sản phẩm này.
Trong khi đó, Nghị quyết số 173/2024/QH15 của Quốc hội đã quy định cấm toàn diện thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và các sản phẩm chứa chất gây nghiện, gây hại cho sức khỏe con người. Đồng thời, Luật Đầu tư cũng đã đưa các sản phẩm này vào danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh.
Việc sửa đổi Luật lần này nhằm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Quốc hội, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong quản lý thuốc lá, đặc biệt là các sản phẩm thế hệ mới. Báo cáo tổng kết 13 năm thi hành Luật cho thấy Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực như giảm tỷ lệ hút thuốc ở nam giới, giảm phơi nhiễm khói thuốc thụ động tại gia đình và nơi công cộng.
Tuy nhiên, những kết quả này đang đứng trước nguy cơ bị suy giảm do sự gia tăng nhanh chóng của việc sử dụng thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng, nhất là trong thanh thiếu niên. Thực tế tại nhiều địa phương đã ghi nhận các trường hợp ngộ độc liên quan đến thuốc lá điện tử, phần lớn là học sinh, sinh viên, trong đó có cả nữ giới.
Theo số liệu của Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai, trước khi lệnh cấm được ban hành, trong vòng 22 tháng đơn vị này đã tiếp nhận 120 trường hợp cấp cứu liên quan đến thuốc lá điện tử, trung bình 5-6 ca mỗi tháng, trong đó có những bệnh nhân bị tổn thương não nghiêm trọng. Sau khi lệnh cấm có hiệu lực, số ca cấp cứu giảm xuống còn khoảng 1-2 trường hợp mỗi tháng.
Cùng với đó, tình trạng quảng cáo công khai thuốc lá điện tử trên mạng xã hội, thông qua người có ảnh hưởng và tại các cửa hàng bán lẻ cũng giảm mạnh, gần như chấm dứt khi các cơ quan chức năng tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm.
Những kết quả bước đầu này cho thấy hiệu quả của các quy định cấm, đồng thời đặt ra yêu cầu cần tiếp tục luật hóa để bảo đảm tính ổn định, lâu dài trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Siết chặt quản lý, tăng cường thực thi chính sách
Một trong những nội dung đáng chú ý trong dự thảo Luật sửa đổi là đề xuất cấm mọi hình thức trưng bày sản phẩm thuốc lá tại điểm bán. Theo Ban soạn thảo, mặc dù pháp luật đã cấm quảng cáo thuốc lá, song việc trưng bày sản phẩm cùng các vật dụng hỗ trợ như tủ, kệ, đèn chiếu sáng… trên thực tế vẫn là hình thức quảng bá, kích thích tiêu dùng.
Đây cũng là khuyến nghị của Công ước khung của WHO về kiểm soát thuốc lá mà Việt Nam là thành viên. Đến cuối năm 2024, đã có 59 quốc gia trên thế giới áp dụng quy định cấm trưng bày thuốc lá tại điểm bán, trong đó nhiều quốc gia ASEAN như Thái Lan, Singapore, Brunei, Lào và Malaysia đã triển khai hiệu quả.
Việc cấm trưng bày được kỳ vọng sẽ góp phần giảm sức hấp dẫn của sản phẩm thuốc lá, đặc biệt đối với thanh thiếu niên, đồng thời hỗ trợ người hút thuốc trong quá trình cai nghiện.
Bên cạnh hoàn thiện chính sách, các đại biểu cũng chỉ ra rằng hiệu quả thực thi Luật tại các địa phương còn chưa đồng đều. Ở nhiều vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, công tác truyền thông, kiểm tra, giám sát vẫn gặp không ít khó khăn do hạn chế về hạ tầng thông tin, rào cản ngôn ngữ, phong tục tập quán và nguồn nhân lực.
Do đó, việc sửa đổi Luật cần gắn với các giải pháp đồng bộ như tăng cường nguồn lực cho tuyến cơ sở, đẩy mạnh truyền thông phù hợp với từng nhóm đối tượng, nâng cao năng lực cán bộ thực thi và bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận đầy đủ thông tin về tác hại của thuốc lá.
Kết luận cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn đề nghị Tổ soạn thảo khẩn trương tiếp thu ý kiến, hoàn thiện dự thảo Luật trên cơ sở các nội dung đã được thống nhất; đồng thời tiếp tục rà soát kỹ lưỡng để bảo đảm dự thảo có chất lượng, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và trình cấp có thẩm quyền đúng tiến độ.
Trong bối cảnh chi phí y tế ngày càng gia tăng, việc kiểm soát hiệu quả tác hại của thuốc lá không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường thực thi và nâng cao nhận thức cộng đồng sẽ là những giải pháp then chốt nhằm giảm gánh nặng bệnh tật, bảo vệ quỹ BHYT và hướng tới một Việt Nam khỏe mạnh, phát triển bền vững./.
Thái Dương (t/h)
Chi tiết >>
(Video): Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn làm ...
Bảo hiểm y tế - lá chắn cho sức khỏe mỗi ...
BHXH Việt Nam tổ chức Hội nghị sơ kết công tác ...
Phú Thọ: Phát huy kết quả đạt được, nâng cao hiệu quả thực ...
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn tri ân gia đình người có công nhân ...
Lan tỏa chính sách an sinh xã hội qua Hội thi “Nông dân với ...
Đánh giá mức độ hài lòng năm 2026: Thước đo chất lượng phục ...
Đoàn giám sát Hội đồng quản lý BHXH làm việc với tỉnh Hà ...
Bạn có thể cho biết ý kiến về thông tin cung cấp trên Cổng thông tin của BHXH Việt Nam?
Bạn có hài lòng với nội dung thông tin cung cấp trên Cổng thông tin BHXH Việt Nam?