Đổi mới quản lý bệnh mạn tính để nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ BHYT

20/04/2026 03:41 PM


Trước áp lực gia tăng nhanh của bệnh không lây nhiễm và chi phí khám chữa bệnh, quỹ BHYT đang đối mặt với thách thức lớn về tính bền vững. Việc chuyển sang quản lý toàn diện, ứng dụng dữ liệu lớn và công nghệ trong kiểm soát bệnh mạn tính được xem là giải pháp then chốt để nâng cao hiệu quả điều trị, sử dụng quỹ an toàn và lâu dài.

Năm 2025, cả nước có gần 98 triệu người tham gia BHYT, đạt tỷ lệ bao phủ 95,16% dân số. Số lượt khám chữa bệnh BHYT vượt 195,1 triệu lượt, tăng 11,5 triệu lượt so với năm trước. Tổng chi đề nghị thanh toán lên tới 166,4 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 23,5 nghìn tỷ đồng, tương ứng mức tăng 16,43%.

Đáng chú ý, quỹ BHYT đang chi trả cho hàng triệu người mắc bệnh mạn tính. Cụ thể, có khoảng 7,98 triệu người tăng huyết áp, hơn 3,3 triệu người mắc đái tháo đường, trên 1,1 triệu bệnh nhân hô hấp mạn tính và gần 500 nghìn người điều trị ung thư. Riêng can thiệp tim mạch đã vượt 400 nghìn trường hợp, cho thấy gánh nặng bệnh tật ngày càng phức tạp và kéo dài.

Đổi mới quản lý bệnh mạn tính để nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ BHYT. (Ảnh minh họa: Nguồn Internet)

Các bệnh không lây nhiễm tiếp tục gia tăng mạnh cả về số lượng và chi phí điều trị. Năm 2025 ghi nhận khoảng 51 triệu lượt khám chữa bệnh liên quan nhóm bệnh này, tăng hơn 4 triệu lượt so với năm trước. Tổng chi phí thanh toán đạt 19,85 nghìn tỷ đồng, tăng 17,82%. Điều này phản ánh xu hướng dịch tễ chuyển dịch rõ rệt sang các bệnh mạn tính, đòi hỏi hệ thống y tế thích ứng kịp thời.

Thực tế trên cho thấy áp lực ngày càng lớn đối với quỹ BHYT, đặc biệt từ các bệnh lý chuyển hóa như đái tháo đường. Việc điều trị kéo dài, nguy cơ biến chứng cao và chi phí tốn kém khiến mô hình quản lý truyền thống không còn phù hợp. Các chuyên gia cho rằng cần chuyển từ cách tiếp cận điều trị đơn lẻ sang quản lý tổng thể, từ bị động sang chủ động phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật.

BHXH Việt Nam đề xuất các nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát và điều trị. Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và hệ thống hướng dẫn chuyên môn, tập trung ban hành quy định về quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu khám, chữa bệnh, phục vụ hiệu quả công tác giám sát, điều hành và nâng cao chất lượng điều trị trong toàn hệ thống.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh đào tạo, chuẩn hóa mã hóa lâm sàng và dữ liệu, bảo đảm quản lý liên tục bệnh lý chuyển hóa. Đồng thời, tăng cường kiểm soát chất lượng dữ liệu qua cơ chế tài chính phù hợp, bảo đảm minh bạch. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển công cụ phân tích và hệ thống cảnh báo sớm cũng là yếu tố then chốt, góp phần sử dụng quỹ BHYT an toàn, hiệu quả và bền vững.

Song song đó, công tác đào tạo và chuẩn hóa dữ liệu được xác định là yếu tố then chốt. Việc chuẩn hóa mã hóa lâm sàng, nâng cao chất lượng thông tin và quản lý liên tục các bệnh lý mạn tính sẽ giúp hệ thống vận hành hiệu quả hơn. Đồng thời, cần thiết lập các cơ chế kiểm soát chất lượng dữ liệu phù hợp, đảm bảo tính chính xác, đầy đủ và nhất quán trong toàn bộ hệ thống BHYT.

Ứng dụng công nghệ thông tin cũng đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn tới. Việc phát triển các công cụ phân tích dữ liệu lớn (Big Data) và hệ thống cảnh báo sớm sẽ hỗ trợ cơ quan quản lý dự báo xu hướng bệnh tật, kiểm soát lạm dụng dịch vụ và đưa ra quyết định chính sách kịp thời. Đây được xem là nền tảng để hướng tới quản lý quỹ BHYT an toàn, hiệu quả và bền vững hơn./.

Thắng Trần