Tiếp tục phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước
13/07/2026 10:10 AM
Hiện tại bài viết chưa được cập nhật nội dung Âm thanh. Xin cảm ơn.
Sau 6 tháng triển khai Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới, công tác thể chế hóa và tổ chức thực hiện đã được triển khai đồng bộ. Nhiều cơ chế, chính sách quan trọng tiếp tục được hoàn thiện, tạo nền tảng để kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong phát triển đất nước.
Theo Báo cáo số 384-BC/CP ngày 06/7/2026 của Đảng uỷ Chính phủ về tình hình thực hiện Nghị quyết số 79/NQ-TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 29/NQ-CP ngày 24/02/2026 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, xác định 23 nhóm nhiệm vụ chung và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức tín dụng nhà nước. Đây là cơ sở quan trọng để cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết số 79-NQ/TW, bảo đảm sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước.
Cùng với việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ, công tác quán triệt, tuyên truyền và triển khai Nghị quyết được thực hiện đồng bộ. Đảng ủy Chính phủ đã chuẩn bị các chuyên đề phục vụ Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết; đồng thời theo dõi, đôn đốc việc triển khai tại các bộ, ngành, địa phương. Qua thực tiễn triển khai cho thấy, nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế nhà nước tiếp tục được nâng lên; các hoạt động tuyên truyền được tổ chức với nhiều hình thức, góp phần tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị.
Thực hiện Nghị quyết số 29/NQ-CP, các bộ, ngành và địa phương đã khẩn trương xây dựng chương trình, kế hoạch hành động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Đến ngày 20/6/2026, đã có 14/15 bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ cùng 30/34 địa phương ban hành chương trình, kế hoạch triển khai. Các chương trình đều bám sát mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết, xác định rõ trách nhiệm, tiến độ thực hiện và nội dung trọng tâm của từng cơ quan, đơn vị, tạo cơ sở để triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển kinh tế nhà nước trong giai đoạn mới.
Một trong những nhiệm vụ được triển khai sớm là rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước. Việc hoàn thiện thể chế được triển khai trên nhiều lĩnh vực như đất đai, tài sản kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Đây đều là những lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong lĩnh vực đất đai và tài nguyên, việc rà soát, sửa đổi Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành được xác định là nhiệm vụ cấp thiết nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn sau gần một năm thi hành Luật Đất đai năm 2024 và quá trình tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Cùng với việc nghiên cứu sửa đổi các quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cơ chế giao đất, cho thuê đất, định giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, các bộ, ngành cũng tập trung đề xuất các giải pháp tạo điều kiện để mọi thành phần kinh tế tiếp cận đất đai bình đẳng; ưu tiên quỹ đất cho phát triển hạ tầng, công nghiệp, dịch vụ, nhà ở xã hội; đồng thời tăng cường quản lý, xử lý tình trạng đất bỏ hoang, sử dụng sai mục đích, gây lãng phí nguồn lực.
Đối với tài sản kết cấu hạ tầng, Chính phủ tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng và khai thác tài sản công. Trong 6 tháng đầu năm 2026 đã ban hành nhiều nghị định về quản lý tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi, giao thông và tài sản kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, quản lý; đồng thời chỉ đạo xây dựng các văn bản hướng dẫn về chế độ quản lý, tính hao mòn, trích khấu hao và báo cáo tài sản kết cấu hạ tầng. Những quy định này góp phần chuẩn hóa công tác quản lý tài sản công, nâng cao chất lượng cơ sở dữ liệu tài sản, tăng cường tính công khai, minh bạch và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư của Nhà nước.
Trong lĩnh vực ngân sách nhà nước, nhiều nhiệm vụ quan trọng tiếp tục được triển khai nhằm hoàn thiện cơ chế phân cấp nguồn thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; nghiên cứu các chính sách thuế mới phù hợp với xu hướng phát triển; hoàn thiện pháp luật về ngân sách nhà nước và đầu tư công; đồng thời thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm cân đối ngân sách, tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính và sử dụng hiệu quả các nguồn lực công. Chính phủ cũng tập trung hoàn thiện các cơ chế huy động vốn, bảo đảm an toàn nợ công, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, tăng cường công khai, minh bạch trong quản lý nợ công và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài.
Cùng với đó, việc hoàn thiện cơ chế quản lý dự trữ quốc gia và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách tiếp tục được đẩy mạnh. Đối với dự trữ quốc gia, trọng tâm là hoàn thiện quy hoạch hệ thống kho dự trữ, xây dựng các nghị định hướng dẫn Luật Dự trữ quốc gia, nâng cao năng lực quản lý, điều phối và đáp ứng yêu cầu trong các tình huống khẩn cấp. Đối với các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, mục tiêu đặt ra là tiếp tục rà soát, sắp xếp theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu quả hoạt động; tăng cường kiểm tra, giám sát, đẩy mạnh chuyển đổi số và công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng nguồn vốn.
Công tác hoàn thiện chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT và BHTN tiếp tục được triển khai thông qua việc xây dựng, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Trong đó, tập trung xây dựng nghị định thay thế quy định về mức đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và rà soát, sửa đổi các quy định liên quan đến thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các quỹ an sinh xã hội.
Cùng với việc hoàn thiện thể chế, các nhiệm vụ đổi mới mô hình quản trị, nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước tiếp tục được triển khai đồng bộ, hướng tới mục tiêu phát huy tốt hơn vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trọng tâm là hoàn thiện cơ chế quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, phát huy vai trò của các tổ chức tín dụng nhà nước, tiếp tục đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, Chính phủ tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Nhiều nhiệm vụ được triển khai như nghiên cứu sửa đổi các quy định về đầu tư vốn nhà nước; hoàn thiện cơ chế quản trị doanh nghiệp theo hướng hiện đại, minh bạch; xây dựng tiêu chí đánh giá doanh nghiệp nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới; đồng thời tiếp tục hoàn thiện cơ chế tiền lương, tiền thưởng, phân phối lợi nhuận sau thuế và cơ chế huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển. Các giải pháp này hướng tới xây dựng đội ngũ doanh nghiệp nhà nước có năng lực cạnh tranh cao, hoạt động hiệu quả, giữ vai trò dẫn dắt trong những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, việc đổi mới công tác quản trị doanh nghiệp được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Các doanh nghiệp nhà nước được khuyến khích áp dụng các chuẩn mực quản trị tiên tiến, tăng cường công khai, minh bạch, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và trách nhiệm giải trình; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Qua đó không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước mà còn tạo động lực để doanh nghiệp thích ứng với yêu cầu cạnh tranh ngày càng cao của nền kinh tế.
Trong lĩnh vực quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu; nâng cao hiệu quả giám sát, kiểm tra, đánh giá hoạt động của doanh nghiệp; tăng cường công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng vốn, tài sản nhà nước; đồng thời đẩy mạnh sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước gắn với nâng cao hiệu quả hoạt động và bảo toàn, phát triển vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.
Đối với các tổ chức tín dụng nhà nước, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế hoạt động được xác định nhằm phát huy vai trò điều tiết thị trường tiền tệ, bảo đảm an toàn hệ thống tài chính và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội. Theo đó, các ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong cung ứng tín dụng cho nền kinh tế, ưu tiên các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, các ngành kinh tế trọng điểm và các chương trình phát triển theo định hướng của Chính phủ. Cùng với đó là nâng cao năng lực tài chính, hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, tăng cường quản trị rủi ro và thúc đẩy chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới.
Đối với Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát triển Việt Nam, các cơ chế, chính sách tiếp tục được rà soát, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện tín dụng chính sách và tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; ưu tiên nguồn lực cho các chương trình giảm nghèo bền vững, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhà ở xã hội, giáo dục, y tế và các lĩnh vực an sinh xã hội, qua đó góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập, việc tiếp tục đổi mới cơ chế hoạt động được triển khai theo hướng nâng cao mức độ tự chủ, đổi mới phương thức cung ứng dịch vụ công, hoàn thiện cơ chế tài chính phù hợp với từng lĩnh vực. Đồng thời, tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, nâng cao chất lượng dịch vụ công và sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước. Việc nghiên cứu hoàn thiện cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu cung cấp dịch vụ công được kỳ vọng sẽ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Song song với việc đổi mới cơ chế quản lý, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục được xác định là động lực quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước. Các bộ, ngành tập trung xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành; đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu; phát triển các nền tảng số dùng chung; từng bước ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các công nghệ số trong quản lý, điều hành. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Bên cạnh việc khai thác hiệu quả các nguồn lực trong nước, công tác đối ngoại kinh tế và huy động nguồn lực quốc tế tiếp tục được quan tâm. Nhiều nhiệm vụ được triển khai nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài; mở rộng hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế, các đối tác phát triển và các tập đoàn lớn trên thế giới trong các lĩnh vực kết cấu hạ tầng, năng lượng, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc chủ động hội nhập và tăng cường hợp tác quốc tế góp phần bổ sung nguồn lực cho phát triển, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế nhà nước.
Bên cạnh những kết quả bước đầu đạt được, việc triển khai Nghị quyết số 79-NQ/TW vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc. Tiến độ hoàn thiện một số cơ chế, chính sách còn chậm; một số quy định pháp luật cần tiếp tục được rà soát, sửa đổi để bảo đảm đồng bộ, thống nhất; công tác phối hợp trong một số nhiệm vụ có lúc, có việc chưa đáp ứng yêu cầu. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan vẫn cần tiếp tục được đẩy mạnh; chất lượng nguồn nhân lực ở một số lĩnh vực chưa theo kịp yêu cầu của quá trình chuyển đổi số và đổi mới mô hình tăng trưởng.
Để tiếp tục đưa Nghị quyết số 79-NQ/TW đi vào cuộc sống, thời gian tới các bộ, ngành và địa phương sẽ tập trung đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật; nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực của Nhà nước; tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức tín dụng nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập; đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện.
Việc triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp theo Nghị quyết số 79-NQ/TW không chỉ góp phần hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các nguồn lực của Nhà nước mà còn tạo nền tảng để kinh tế nhà nước tiếp tục phát huy vai trò chủ đạo, dẫn dắt trong những ngành, lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế. Đây cũng là tiền đề quan trọng để giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế và tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới. /.
Thu Thuỷ
Chi tiết >>
Bảo hiểm y tế - lá chắn cho sức khỏe mỗi ...
BHXH Việt Nam tổ chức Hội nghị sơ kết công tác ...
Hướng dẫn đóng tiếp BHXH tự nguyện qua Cổng Dịch ...
Hà Nội tổ chức đợt cao điểm bảo đảm chi trả lương hưu, trợ ...
Thành phố Hồ Chí Minh: Củng cố vững chắc “lưới an sinh”, ...
Đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính đáp ứng ...
Gần 420 vận động viên tham gia Giải chạy vì an sinh xã hội ...
BHXH Việt Nam đánh giá công tác sắp xếp bộ máy và triển ...
Bạn có thể cho biết ý kiến về thông tin cung cấp trên Cổng thông tin của BHXH Việt Nam?
Bạn có hài lòng với nội dung thông tin cung cấp trên Cổng thông tin BHXH Việt Nam?