Vững bước dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh

19/05/2026 09:05 AM


Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới - đã để lại cho dân tộc ta một di sản tư tưởng, đạo đức và phong cách vô cùng to lớn, quý báu. Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh của Người (19/5/1890-19/5/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục ôn lại cuộc đời, sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Bác; kiên định lý tưởng cách mạng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và vững bước dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước hôm nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc Việt Nam (nguồn ảnh: Internet).

Người mở đường và đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học lấy tên Nguyễn Tất Thành, sinh ngày 19/5/1890 tại làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong một gia đình nhà nho yêu nước. Thân phụ của Người là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - một nhà nho có tư tưởng tiến bộ, giàu lòng yêu nước và thương dân; thân mẫu là bà Hoàng Thị Loan - người phụ nữ giàu đức hy sinh, tần tảo và nhân hậu. Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, Nhân dân sống trong cảnh lầm than, áp bức, Người sớm chứng kiến nỗi đau mất nước và hun đúc tinh thần yêu nước sâu sắc.

Ngay từ thuở thiếu thời, Nguyễn Tất Thành đã rất khâm phục tinh thần yêu nước của các bậc chí sĩ như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hoàng Hoa Thám…, nhưng Người không hoàn toàn tán thành con đường cứu nước của các bậc tiền bối. Nếu như cụ Phan Chu Trinh chủ trương dựa vào Pháp để cải cách, cụ Phan Bội Châu dựa vào Nhật để chống Pháp thì Nguyễn Tất Thành cho rằng muốn giải phóng dân tộc phải tìm ra một con đường mới phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế của thời đại. Chính từ nhận thức đó, Người đã nung nấu quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước.

Ngày 05/6/1911, với tên gọi Văn Ba, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Bến Nhà Rồng lên tàu Amiral Latouche Tréville bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước. Đây là dấu mốc lịch sử đặc biệt quan trọng đối với cách mạng Việt Nam. Hành trình ấy kéo dài gần 30 năm, qua nhiều quốc gia ở châu Á, châu Âu, châu Phi và châu Mỹ. Trong những năm tháng bôn ba nơi đất khách quê người, Người vừa lao động kiếm sống, vừa học tập, nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực tiễn các cuộc cách mạng trên thế giới.

Người đã làm nhiều nghề khác nhau để sinh sống như phụ bếp trên tàu biển, cào tuyết, đốt lò, làm vườn, chụp ảnh, viết báo… Dù trong hoàn cảnh nào, Người vẫn luôn đau đáu một nỗi niềm là làm thế nào để cứu nước, cứu dân. Trong hành trình đó, Người đã tận mắt chứng kiến cuộc sống của giai cấp công nhân và Nhân dân lao động ở nhiều quốc gia tư bản; đồng thời cũng thấy rõ bản chất áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân đối với các dân tộc thuộc địa. Chính thực tiễn ấy giúp Người từng bước xác định con đường giải phóng dân tộc đúng đắn cho Việt Nam.

Năm 1919, thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Versailles “Bản yêu sách của Nhân dân An Nam”, yêu cầu Chính phủ Pháp và các nước đồng minh công nhận các quyền tự do, dân chủ, bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Dù không được chấp nhận, nhưng sự kiện này đã đánh dấu bước trưởng thành quan trọng trong hoạt động chính trị của Nguyễn Ái Quốc, đồng thời đưa tên tuổi của Người đến với dư luận quốc tế.

Bước ngoặt lớn nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc diễn ra vào năm 1920 khi Người đọc được “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo Nhân đạo. Luận cương của Lênin đã giúp Nguyễn Ái Quốc tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Người xúc động khẳng định: “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản.

Tại Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Đây không chỉ là bước ngoặt đối với cá nhân Người mà còn là bước ngoặt của cách mạng Việt Nam, bởi từ đây cách mạng Việt Nam gắn bó mật thiết với phong trào cách mạng thế giới.

Trong những năm tiếp theo, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; đồng thời truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Người tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa tại Pháp, xuất bản báo “Người cùng khổ”, viết nhiều bài báo, tác phẩm nổi tiếng tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân, tiêu biểu như “Bản án chế độ thực dân Pháp”.

Năm 1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - tổ chức tiền thân quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người trực tiếp mở các lớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ cách mạng; xuất bản Báo Thanh Niên để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước. Dưới sự chuẩn bị công phu của Nguyễn Ái Quốc về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phong trào cách mạng Việt Nam phát triển mạnh mẽ, tạo tiền đề cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngày 03/02/1930, tại Hồng Kông (Trung Quốc), dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đã quyết định thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của Đảng là bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo cách mạng. Từ đây, cách mạng Việt Nam có một Đảng tiên phong lãnh đạo, mở ra thời kỳ mới cho dân tộc.

Từ năm 1930 đến năm 1940, mặc dù bị đế quốc thực dân đàn áp, truy nã, tù đày khắc nghiệt, Nguyễn Ái Quốc vẫn kiên trì lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người từng bị bắt giam tại Hồng Kông và trải qua nhiều năm hoạt động bí mật trong điều kiện vô cùng khó khăn, nguy hiểm. Tuy nhiên, dù trong hoàn cảnh nào, Người vẫn giữ vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng và tiếp tục chỉ đạo phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.

Mùa Xuân năm 1941, sau hơn 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người chủ trì Hội nghị Trung ương 8, quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm đoàn kết toàn dân đứng lên đấu tranh giành độc lập. Dưới sự lãnh đạo của Người, phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang từng bước lớn mạnh.

Tháng Tám năm 1945, chớp thời cơ lịch sử khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân cả nước tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách: nạn đói, nạn dốt, thù trong giặc ngoài, nền kinh tế kiệt quệ. Trong bối cảnh ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân từng bước vượt qua khó khăn, xây dựng chính quyền cách mạng non trẻ. Người phát động phong trào “diệt giặc đói”, “diệt giặc dốt”; chăm lo đời sống Nhân dân; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Dưới sự lãnh đạo của Người, Nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện và giành thắng lợi vẻ vang với đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam. Người luôn dành tình cảm sâu nặng đối với đồng bào miền Nam ruột thịt và khẳng định chân lý: “Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi”.

Không chỉ là lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là tấm gương đạo đức sáng ngời. Người sống vô cùng giản dị, khiêm tốn, thanh bạch; luôn yêu thương đồng bào, chiến sĩ; dành trọn cuộc đời mình cho dân, cho nước. Cuộc đời và sự nghiệp của Người là biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

Ngày 02/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, để lại niềm tiếc thương vô hạn đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và bạn bè quốc tế. Tuy Người đã đi xa, nhưng tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam và nhân loại tiến bộ đã được thế giới ghi nhận. Năm 1987, UNESCO đã ra Nghị quyết tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh - tài sản tinh thần vô giá của dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là nhà tư tưởng lớn, nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại. Cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú và đầy gian khổ của Người đã để lại cho Đảng và Nhân dân ta một di sản tư tưởng vô cùng to lớn, quý báu. Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta; đồng thời kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại.

Tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh mãi là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam (nguồn: Internet)

Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ thực tiễn đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam và quá trình hoạt động cách mạng phong phú của Người ở nhiều quốc gia trên thế giới. Từ lòng yêu nước sâu sắc, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam - con đường cách mạng vô sản. Đây là bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử không chỉ đối với cuộc đời hoạt động cách mạng của Người mà còn mở ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn cho Nhân dân Việt Nam.

Nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Theo Người, giải phóng dân tộc phải gắn với giải phóng giai cấp, giải phóng con người; độc lập dân tộc phải đi đôi với tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm cho Nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và đất nước phát triển bền vững. Người từng nhấn mạnh: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Trong tư tưởng của Người, cách mạng là sự nghiệp của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; coi đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng. Người nhiều lần khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”. Chính nhờ phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc mà cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để đi đến thắng lợi.

Một nội dung đặc biệt quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Người khẳng định Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng; vì vậy Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng; phải giữ gìn đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân; thực hành “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; phải thật sự gần dân, trọng dân, hết lòng phục vụ Nhân dân. Người căn dặn: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt quan tâm xây dựng Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Theo Người, mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về Nhân dân; cán bộ, công chức là “công bộc” của dân, phải hết lòng phục vụ Nhân dân, đặt lợi ích của Nhân dân lên trên hết. Người luôn nhấn mạnh vai trò của pháp luật, của dân chủ và yêu cầu xây dựng một nền hành chính trong sạch, hiệu lực, hiệu quả. Đây là những tư tưởng có giá trị to lớn đối với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

Không chỉ là lãnh tụ chính trị lỗi lạc, Hồ Chí Minh còn là nhà văn hóa lớn của dân tộc và nhân loại. Người tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây; kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Hồ Chí Minh để lại nhiều tác phẩm văn học, báo chí có giá trị tư tưởng và nghệ thuật sâu sắc; đồng thời là biểu tượng sáng ngời của hòa bình, nhân ái, khoan dung và tình hữu nghị giữa các dân tộc.

Với những cống hiến to lớn đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và sự phát triển văn hóa của nhân loại, năm 1987, UNESCO đã ra Nghị quyết tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”. Đây không chỉ là niềm tự hào của Nhân dân Việt Nam mà còn là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những giá trị tư tưởng, văn hóa và nhân văn cao đẹp của Người.

Tiếp tục học tập và làm theo Bác trong giai đoạn mới

Hiện nay, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường; đất nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ, thuận lợi đan xen khó khăn, thách thức, việc tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là yêu cầu thường xuyên trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị mà còn là nhiệm vụ quan trọng nhằm khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; về phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; về đại đoàn kết toàn dân tộc; về xây dựng Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân… vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và Nhân dân ta trên con đường đổi mới và phát triển đất nước.

Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên trì đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đồng thời, phải phát huy mạnh mẽ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước.

Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ngày càng đặt ra cấp thiết. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu; cán bộ, đảng viên phải giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Vì vậy, việc học tập và làm theo Bác phải gắn chặt với thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhà nước phải thực sự gần dân, trọng dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân; mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ lợi ích chính đáng của Nhân dân. Cán bộ, công chức, viên chức phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ Nhân dân; thực hiện tốt phương châm “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”.

Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần được triển khai bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị và mỗi cán bộ, đảng viên. Học Bác không chỉ dừng lại ở nhận thức mà quan trọng hơn là phải thể hiện bằng hành động thực tiễn; nói đi đôi với làm; nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy với công việc; gần gũi, gắn bó với Nhân dân; phát huy vai trò nêu gương, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững. Đó là phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; chăm lo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; giữ vững quốc phòng, an ninh; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam thêm tự hào và biết ơn sâu sắc công lao trời biển của Bác Hồ kính yêu đối với dân tộc. Đây cũng là dịp để tiếp tục khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, xây dựng nước Việt Nam hùng cường, giàu mạnh như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn./.

Thu Thuỷ