Hợp nhất các Chương trình mục tiêu quốc gia: Nâng cao chất lượng cuộc sống, lấy con người làm trung tâm phát triển

10/09/2026 09:39 AM


Hợp nhất 4 Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) không chỉ nhằm tinh gọn đầu mối, khắc phục chồng chéo mà còn hướng tới đổi mới quản trị, sử dụng hiệu quả nguồn lực. Theo Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng), thước đo của Chương trình phải là những chuyển biến thực chất trong đời sống Nhân dân, bảo đảm chính sách liên tục và quyền lợi người thụ hưởng.

Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng Nguyễn Thị Việt Nga.

Mọi nguồn lực cuối cùng phải hướng về người dân

Tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Nghị quyết số 46/2026/QH16 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, trên cơ sở hợp nhất 4 chương trình về phát triển văn hóa; hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển.

Với phạm vi bao trùm nhiều lĩnh vực tác động trực tiếp đến chất lượng phát triển con người và quy mô nguồn lực lớn, Chương trình đặt ra yêu cầu không chỉ hoàn thành các nhiệm vụ, dự án đã đề ra mà phải bảo đảm nguồn lực thực sự tạo ra chuyển biến trong cuộc sống của người dân.

Theo Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, mục tiêu cuối cùng của một CTMTQG không phải là phân bổ được bao nhiêu vốn, xây dựng được bao nhiêu công trình hay hoàn thành bao nhiêu dự án, mà là nguồn lực đó đã tạo ra sự thay đổi như thế nào đối với cuộc sống của người dân. Quan điểm này càng quan trọng đối với Chương trình sau hợp nhất, bởi văn hóa, giáo dục, y tế, dân số, giảm nghèo, sinh kế, xây dựng nông thôn mới và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi đều có mối liên hệ trực tiếp với chất lượng cuộc sống.

Trong quá trình hoàn thiện hồ sơ, nguyên tắc không làm thay đổi, thu hẹp mục tiêu, phạm vi, đối tượng thụ hưởng cốt lõi, quyền lợi và mức độ ưu tiên của 4 chương trình trước khi hợp nhất đã được xác lập khá rõ; đồng thời không được làm gián đoạn chính sách hoặc ảnh hưởng quyền lợi hợp pháp của người đang thụ hưởng. Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Thị Việt Nga, “không ai bị bỏ lại phía sau” không chỉ là bảo đảm không có đối tượng nào bị mất chính sách, mà quan trọng hơn phải đo được ai đang thực sự được thụ hưởng, thụ hưởng ở mức độ nào và sau chính sách cuộc sống của họ thay đổi ra sao.

Một trường học được xây mới là kết quả đầu ra, nhưng điều cần quan tâm hơn là trẻ em ở địa bàn khó khăn có được tiếp cận giáo dục thuận lợi hơn và chất lượng học tập có được cải thiện hay không. Một trạm y tế được đầu tư là cần thiết, nhưng kết quả cuối cùng phải là người dân được chăm sóc sức khỏe tốt hơn. Một hộ nghèo được hỗ trợ sinh kế cũng chưa phải là điểm kết thúc nếu sinh kế đó không đủ bền vững để giúp họ thực sự thoát nghèo.

Từ góc độ an sinh xã hội, cách tiếp cận này càng có ý nghĩa. Một gia đình có cuộc sống ổn định không chỉ cần thu nhập mà còn cần được bảo vệ trước những rủi ro về sức khỏe, việc làm, tuổi già và các biến cố trong cuộc sống. Các chính sách BHXH, BHYT, BHTN vì vậy là những cấu phần quan trọng góp phần củng cố “lưới an sinh”, giúp người dân duy trì cuộc sống khi gặp rủi ro và bảo vệ thành quả giảm nghèo.

Việc mở rộng diện bao phủ và bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHXH, BHYT, BHTN, nhất là đối với người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và các nhóm dễ bị tổn thương, cũng cần được đặt trong tổng thể mục tiêu phát triển con người. Khi người lao động được hỗ trợ trong thời gian thất nghiệp, người dân được bảo đảm quyền lợi khi khám, chữa bệnh, người hết tuổi lao động có nguồn thu nhập phù hợp thì những thành quả của các chính sách phát triển mới có điều kiện được duy trì bền vững.

Hợp nhất để khắc phục chồng chéo, nâng cao hiệu quả chính sách

Theo Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, việc hợp nhất chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng đổi mới phương thức quản trị. Nếu chỉ đưa 4 chương trình vào một tên gọi chung nhưng bên trong vẫn vận hành theo 4 logic khác nhau thì đó mới là hợp nhất về hình thức, chưa phải đổi mới phương thức quản trị.

Một hộ nghèo ở vùng khó khăn có thể đồng thời thiếu sinh kế, nhà ở, nước sạch, điều kiện học tập cho con và khả năng tiếp cận y tế. Nếu mỗi nhu cầu tiếp tục được xử lý bằng một quy trình, một nguồn vốn và một hệ thống thủ tục riêng thì chính sách vẫn bị chia cắt theo cơ quan quản lý, trong khi đời sống của người dân vốn không chia cắt như vậy. Đây cũng là giá trị lớn được kỳ vọng từ việc hợp nhất lần này.

Chính phủ đã xác định việc thống nhất Chương trình phải khắc phục tình trạng giao thoa, trùng lặp về mục tiêu, đối tượng, địa bàn và nội dung hỗ trợ; tiến tới thống nhất cơ chế quản lý, tiêu chí phân bổ, chế độ báo cáo và quy trình từ lập kế hoạch, phân bổ, giao vốn đến thanh toán, quyết toán, giám sát, đánh giá.

Do đó, cần đi đến một bước cao hơn: không chỉ tích hợp nguồn lực mà phải tích hợp cách giải quyết vấn đề. Từ một mục tiêu phát triển chung, xác định các vấn đề cần giải quyết, sau đó bố trí nguồn lực theo địa bàn, đối tượng và kết quả cần đạt, thay vì trước hết chia nguồn lực thành những “ngăn” hành chính rồi mới tìm nhiệm vụ để sử dụng.

Với tổng nguồn lực dự kiến giai đoạn 2026 - 2030 lên tới 808.558 tỷ đồng, quy mô lớn của Chương trình vừa tạo điều kiện tập trung nguồn lực, vừa đặt ra yêu cầu cao về năng lực quản trị. Trong đó, dữ liệu phải trở thành “xương sống” của quản trị Chương trình. Một hệ thống dữ liệu chung cần cho phép theo dõi từ tổng nguồn lực đến từng địa bàn, nhóm mục tiêu và đối tượng thụ hưởng; đồng thời phát hiện hỗ trợ trùng lặp hoặc khoảng trống chính sách. Đối với lĩnh vực an sinh xã hội, việc khai thác hiệu quả dữ liệu về dân cư, việc làm, thu nhập và tình trạng tham gia, thụ hưởng các chính sách BHXH, BHYT, BHTN sẽ góp phần đưa chính sách đến đúng đối tượng, hạn chế bỏ sót và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Đo hiệu quả bằng những thay đổi thực chất

Một vấn đề quan trọng được đặt ra là phải thay đổi cách đánh giá hiệu quả của Chương trình. Bên cạnh các chỉ tiêu về tiến độ thực hiện và giải ngân, cần đặc biệt coi trọng các chỉ tiêu về thu nhập, việc làm, khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, văn hóa, dịch vụ xã hội và chất lượng cuộc sống. Chính phủ cũng đã định hướng bộ tiêu chí đánh giá phải bao gồm cả mức độ hoàn thành mục tiêu và kết quả đánh giá sự hài lòng của Nhân dân.

Hồ sơ Chương trình đồng thời nhận diện một rủi ro đáng lưu ý: nếu dữ liệu chỉ được tổng hợp chung mà không phân tách theo giới tính, dân tộc, độ tuổi, tình trạng khuyết tật, mức sống và địa bàn thì những con số bình quân có thể che khuất sự chênh lệch trong khả năng tiếp cận và mức độ thụ hưởng chính sách. Vì vậy, đánh giá hiệu quả phải cho thấy được ai đang được hưởng lợi, hưởng lợi ở mức độ nào và nhóm nào vẫn còn gặp khó khăn trong tiếp cận chính sách.

Quan trọng hơn, từ góc độ người dân, hiệu quả phải được phản ánh bằng những thay đổi cụ thể: người dân có thêm việc làm và thu nhập ổn định; hộ nghèo có khả năng thoát nghèo bền vững; trẻ em được học tập trong điều kiện tốt hơn; người dân được chăm sóc sức khỏe thuận lợi hơn; người lao động được hỗ trợ khi mất việc và có cơ hội sớm quay trở lại thị trường lao động; người tham gia BHXH có thêm điểm tựa khi hết tuổi lao động; người dân được bảo đảm quyền lợi BHYT khi ốm đau, bệnh tật.

Đây cũng là lý do các chính sách BHXH, BHYT, BHTN cần được đặt trong tổng thể mục tiêu phát triển con người. Một chương trình giảm nghèo sẽ khó đạt được tính bền vững nếu người dân sau khi thoát nghèo vẫn dễ dàng rơi trở lại nghèo đói khi gặp bệnh tật, mất việc hoặc mất khả năng lao động. Ngược lại, khi người dân có việc làm, được bảo vệ bởi các chính sách bảo hiểm và có khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội thiết yếu, thành quả phát triển sẽ có nền tảng vững chắc hơn.

Hợp nhất 4 CTMTQG vì thế không đơn thuần là sự sắp xếp lại chương trình và nguồn lực, mà là cơ hội đổi mới cách Nhà nước thiết kế, tổ chức và đánh giá chính sách. Sự thống nhất về mục tiêu, cơ chế điều phối, dữ liệu và quản trị phải hướng đến một kết quả cuối cùng: người dân được hưởng lợi nhiều hơn, công bằng hơn và bền vững hơn.

Từ đó, thước đo quan trọng nhất của Chương trình không nằm ở số lượng dự án hoàn thành hay tỷ lệ giải ngân, mà ở những chuyển biến có thể cảm nhận và đo lường được trong cuộc sống của người dân. Khi thu nhập, việc làm, sức khỏe, giáo dục, điều kiện sống và khả năng tiếp cận các chính sách an sinh xã hội được cải thiện, đó mới là minh chứng rõ nhất cho hiệu quả của nguồn lực Nhà nước và cho mục tiêu phát triển lấy con người làm trung tâm./.

Thu Thủy (Theo Báo Tin tức và Dân tộc)