Phát triển kinh tế số, xã hội số: Động lực mới cho tăng trưởng và nâng cao chất lượng an sinh xã hội
12/06/2026 09:30 AM
Hiện tại bài viết chưa được cập nhật nội dung Âm thanh. Xin cảm ơn.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1033/QĐ-TTg ngày 09/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030. Chương trình đặt mục tiêu xây dựng nền kinh tế số năng động dựa trên nền tảng số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; đồng thời thúc đẩy hình thành xã hội số toàn diện, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận và thụ hưởng các thành quả của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.
Kinh tế số, xã hội số trở thành động lực chiến lược thúc đẩy phát triển đất nước trong kỷ nguyên số
Theo Quyết định số 1033/QĐ-TTg, phát triển kinh tế số và xã hội số được xác định là động lực chiến lược thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong kỷ nguyên số. Đây không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn là yêu cầu cấp thiết nhằm tạo ra các động lực tăng trưởng mới, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Chương trình nhấn mạnh quan điểm phát triển kinh tế số và xã hội số phải dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; hình thành phương thức sản xuất mới, trong đó dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất chính, trí tuệ nhân tạo trở thành công cụ sản xuất chủ yếu, còn môi trường số trở thành môi trường phát triển an toàn, tin cậy và bảo đảm chủ quyền quốc gia.
Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt thông qua việc hoàn thiện thể chế, chính sách đồng bộ; đầu tư hạ tầng số hiện đại; phát triển công nghệ chiến lược và nguồn nhân lực chất lượng cao. Doanh nghiệp và người dân được xác định là trung tâm, là chủ thể sáng tạo và là đối tượng thụ hưởng của quá trình phát triển kinh tế số và xã hội số.
Một trong những yêu cầu quan trọng được đặt ra là phát triển kinh tế số, xã hội số phải gắn với nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước; bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, dữ liệu cá nhân và chủ quyền số quốc gia. Nguồn lực sẽ được tập trung để phát triển và từng bước làm chủ các công nghệ số trọng điểm như điện toán đám mây, công nghệ dữ liệu, công nghệ bán dẫn, hạ tầng viễn thông thế hệ mới, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ số tiên tiến khác.
Bên cạnh đó, phát triển kinh tế số và xã hội số phải được triển khai đồng bộ, toàn diện và xuyên suốt trong mọi ngành, lĩnh vực và đời sống xã hội; bảo đảm tính bền vững, lâu dài; gắn chặt với chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Đặc biệt, Chương trình cũng nhấn mạnh yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng, chủ động tiếp thu tri thức, công nghệ nguồn và nguồn lực từ các đối tác quốc tế; tham gia tích cực vào các sáng kiến, tiêu chuẩn và chuỗi giá trị số toàn cầu, từng bước khẳng định vị thế của Việt Nam như một trung tâm công nghệ số năng động trong khu vực.
Để hiện thực hóa các định hướng trên, Chương trình đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể đến năm 2030. Trong đó, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đạt khoảng 30%; hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số; tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến; phát triển, thúc đẩy và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu; giá trị thanh toán không dùng tiền mặt đạt mức gấp 30 lần GDP.
Đối với xã hội số, mục tiêu đến năm 2030 là 100% hộ gia đình được tiếp cận Internet băng rộng cáp quang tốc độ 1Gb/s; mạng 5G đạt tốc độ tối thiểu 100 Mb/s, phủ sóng 99% dân số; 100% công dân từ 14 tuổi trở lên có căn cước và tài khoản định danh điện tử; 95% dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc tổ chức được phép khác; trên 70% người từ 18 tuổi trở lên có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân; tối thiểu 10 triệu lượt người trong độ tuổi lao động được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cơ bản.
Hoàn thiện hạ tầng số, dữ liệu số và nền tảng số làm nền móng cho phát triển kinh tế số, xã hội số
Để đạt được các mục tiêu đã đề ra, Quyết định 1033/QĐ-TTg xác định 15 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, trong đó ưu tiên hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng số, nền tảng số và dữ liệu số.
Theo đó, Chính phủ sẽ tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển kinh tế số, xã hội số. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế về dữ liệu; phát triển kinh tế dữ liệu; ban hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các mô hình kinh tế mới dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; tăng cường điều phối liên ngành và nâng cao hiệu quả thực thi.
Cùng với đó, hạ tầng số được xác định là nền tảng quan trọng cho sự phát triển. Nhà nước sẽ ưu tiên phát triển hạ tầng băng rộng, mạng 5G và các thế hệ mạng di động tiếp theo; phát triển Internet vệ tinh quỹ đạo tầm thấp; xây dựng các trung tâm dữ liệu quy mô lớn, trung tâm dữ liệu hỗ trợ ứng dụng trí tuệ nhân tạo; phát triển hạ tầng điện toán đám mây, hạ tầng tính toán hiệu năng cao và các hạ tầng phục vụ AI theo mô hình dịch vụ.
Một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng là phát triển kinh tế dữ liệu trở thành nguồn lực mới và động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo đó, các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành sẽ tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện và kết nối đồng bộ. Dữ liệu được khai thác hiệu quả hơn để phục vụ hoạch định chính sách, quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng dịch vụ công.
Chương trình cũng xác định việc thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong các ngành, lĩnh vực nhằm nâng cao năng suất, tối ưu hóa vận hành và đổi mới phương thức ra quyết định trên cơ sở dữ liệu. Các bộ, ngành, địa phương sẽ triển khai các bài toán trọng điểm về AI để giải quyết hiệu quả những vấn đề thực tiễn, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận và ứng dụng AI trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Song song với đó là các giải pháp bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu nhằm xây dựng niềm tin số. Hệ thống thể chế về an ninh mạng tiếp tục được hoàn thiện theo nguyên tắc an toàn từ khâu thiết kế, phát triển và vận hành hạ tầng số; triển khai mô hình bảo vệ nhiều lớp; nâng cao năng lực giám sát, ứng cứu sự cố; xây dựng hệ sinh thái tín nhiệm mạng và phát triển thị trường bảo hiểm an ninh mạng.
Nguồn nhân lực số cũng là một trong những trụ cột quan trọng của Chương trình. Bên cạnh phát triển đội ngũ chuyên gia công nghệ số, Chương trình chú trọng phổ cập kỹ năng số cho người dân; đẩy mạnh đào tạo nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược; thúc đẩy học tập suốt đời và đào tạo lại lực lượng lao động để thích ứng với yêu cầu mới của thị trường lao động trong kỷ nguyên số.
Đặc biệt, Chương trình đặt mục tiêu hình thành công dân số có định danh điện tử, có kỹ năng số an toàn, có trách nhiệm; phát triển văn hóa số lành mạnh, bao trùm; mở rộng các tiện ích trên nền tảng VNeID phục vụ người dân, doanh nghiệp và các hoạt động kinh tế - xã hội.
Đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực an sinh xã hội
Đối với lĩnh vực an sinh xã hội, Quyết định yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển từ phương thức quản lý thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu nhằm bảo đảm chính sách được thực hiện chính xác, kịp thời, minh bạch và đúng đối tượng thụ hưởng. Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo đảm mỗi đối tượng thụ hưởng được định danh điện tử để quản lý thống nhất trên toàn quốc.
Bên cạnh đó, việc thanh toán chi trả các chế độ an sinh xã hội không dùng tiền mặt sẽ tiếp tục được đẩy mạnh nhằm nâng cao tính công khai, minh bạch và thuận tiện cho người dân. Các nền tảng số, ứng dụng số cũng sẽ được phát triển để hỗ trợ người yếu thế, người cao tuổi, người khuyết tật tiếp cận thuận lợi hơn với các dịch vụ an sinh xã hội và dịch vụ công.
Đối với lĩnh vực BHXH, Chương trình xác định nhiệm vụ xây dựng hệ thống BHXH số dựa trên quản trị dữ liệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHXH. Đây là định hướng quan trọng, phù hợp với quá trình chuyển đổi số toàn diện mà BHXH Việt Nam đang triển khai trong những năm qua.
Theo Quyết định, cần tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm xã hội với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu liên quan; từng bước dữ liệu hóa toàn bộ vòng đời BHXH. Đồng thời, đẩy mạnh liên thông dữ liệu giữa cơ quan bảo hiểm xã hội với cơ quan thuế, cơ quan đăng ký doanh nghiệp và các cơ quan liên quan nhằm nâng cao hiệu quả giám sát, hạn chế tình trạng trốn đóng, chậm đóng và nợ đóng BHXH.
Trong lĩnh vực y tế, Chương trình tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng và chuẩn hóa cơ sở dữ liệu y tế, dữ liệu BHYT; bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, khám chữa bệnh, thanh toán BHYT và chăm sóc sức khỏe Nhân dân.
Các nền tảng y tế số sẽ tiếp tục được phát triển, trong đó có hồ sơ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử, đơn thuốc điện tử gắn với định danh điện tử của người dân. Việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các công nghệ số tiên tiến sẽ được đẩy mạnh trong chẩn đoán, điều trị, theo dõi sức khỏe và quản lý y tế, bảo hiểm.
Theo các mục tiêu cụ thể của Chương trình, đến năm 2030 phấn đấu trên 90% bệnh viện có triển khai hỗ trợ khám bệnh, chữa bệnh từ xa hoặc hội chẩn, tư vấn từ xa; 100% người dân được lập sổ sức khỏe điện tử; 100% cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên toàn quốc hoàn thành triển khai hồ sơ bệnh án điện tử.
Việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030 tiếp tục khẳng định quyết tâm mạnh mẽ của Chính phủ trong thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia một cách toàn diện, đồng bộ và thực chất. Đối với hệ thống BHXH Việt Nam, đây vừa là cơ sở quan trọng, vừa là động lực để tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng hệ sinh thái BHXH số, BHYT số hiện đại; nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp; góp phần xây dựng nền an sinh xã hội hiện đại, minh bạch, hiệu quả và bền vững trong kỷ nguyên số./.
Thu Thuỷ