Quy định mới xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, BHXH từ ngày 10/9/2026
16/07/2026 11:02 AM
Hiện tại bài viết chưa được cập nhật nội dung Âm thanh. Xin cảm ơn.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 283/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, BHXH, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10/9/2026.
Nghị định quy định rõ hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, quy định về hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc, hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện.
Cụ thể, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, BHXH, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì bị xử phạt theo hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền. Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung sau đây: Tịch thu tang vật vi phạm hành chính; tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề có thời hạn; đình chỉ hoạt động có thời hạn; trục xuất người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Tăng chế tài xử lý vi phạm chậm đóng, trốn đóng BHXH bắt buộc
Đối với vi phạm về chậm đóng BHXH bắt buộc, Nghị định quy định: Phạt cảnh cáo đối với các hành vi quy định tại khoản 3 Điều này khi số tiền vi phạm tính tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính dưới 400.000 đồng.
Phạt tiền đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia BHXH bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật BHXH; không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia BHXH bắt buộc sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định của Luật BHXH nhưng thuộc trường hợp pháp luật quy định không bị coi là trốn đóng BHXH bắt buộc theo quy định của pháp luật, mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng, tùy theo số lượng người lao động bị vi phạm.
Phạt tiền từ 12% đến 15% tổng số tiền chậm đóng BHXH bắt buộc tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi chậm đóng BHXH sau đây: Chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng theo hồ sơ tham gia BHXH bắt buộc đã đăng ký kể từ sau ngày đóng BHXH chậm nhất quy định của Luật BHXH.
Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký BHXH bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng BHXH bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật BHXH và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật BHXH nhưng thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng BHXH bắt buộc theo quy định của pháp luật.
Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc người sử dụng lao động lập hồ sơ đăng ký hoặc lập hồ sơ đăng ký đầy đủ số người tham gia BHXH bắt buộc cho người lao động; đóng đủ số tiền BHXH bắt buộc chậm đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền BHXH bắt buộc chậm đóng và số ngày chậm đóng vào quỹ BHXH đối với hành vi vi phạm.
Buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền BHXH bắt buộc chậm đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền BHXH bắt buộc chậm đóng và số ngày chậm đóng vào quỹ BHXH đối với hành vi vi phạm theo quy định.
Vi phạm về trốn đóng BHXH bắt buộc, Nghị định quy định: Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có hành vi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia BHXH bắt buộc sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định của Luật BHXH, mức phạt từ 6.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng, tùy theo số lượng người lao động bị vi phạm.
Phạt tiền từ 18% đến 20% tổng số tiền trốn đóng BHXH bắt buộc nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi trốn đóng BHXH sau đây: Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp hơn quy định của Luật BHXH;
Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký BHXH bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng BHXH bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật BHXH và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật BHXH nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc người sử dụng lao động lập hồ sơ đăng ký hoặc lập hồ sơ đăng ký đầy đủ số người tham gia BHXH bắt buộc cho người lao động; đóng đủ số tiền BHXH bắt buộc trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền BHXH bắt buộc trốn đóng và số ngày trốn đóng vào quỹ BHXH đối với hành vi vi phạm quy định. Buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền BHXH bắt buộc trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền BHXH bắt buộc trốn đóng và số ngày trốn đóng vào quỹ BHXH đối với hành vi vi phạm quy định.
Xử lý nghiêm vi phạm về dữ liệu người lao động, mức phạt lên tới 70 triệu đồng
Mua bán, trao đổi, chiếm đoạt trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động có thể bị xử phạt tới 70 triệu đồng.
Theo quy định về xử phạt vi phạm trong lĩnh vực việc làm, Nghị định nêu rõ: phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi phân biệt đối xử trong việc làm khi không xuất phát từ yêu cầu đặc thù của công việc, cũng như các hành vi duy trì, bảo vệ việc làm không phù hợp đối với nhóm lao động dễ bị tổn thương.
Đối với hành vi khai thác, chia sẻ, sử dụng trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động và thông tin thị trường lao động chưa được cơ quan có thẩm quyền công bố, mức phạt từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Phạt tiền từ 45.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động dịch vụ việc làm khi chưa được thành lập hợp pháp theo quy định.
Mức phạt từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng áp dụng đối với các hành vi như: gian lận, giả mạo hồ sơ trong thực hiện chính sách việc làm hoặc trong đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; lợi dụng hoạt động dịch vụ việc làm để xâm phạm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, trật tự an toàn xã hội hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đáng chú ý, hành vi mua bán, trao đổi, chiếm đoạt trái phép dữ liệu người lao động và thông tin thị trường lao động chưa được công bố cũng thuộc nhóm vi phạm bị xử phạt ở mức cao nêu trên.
Bên cạnh đó, Nghị định quy định các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả như tịch thu tang vật vi phạm là hồ sơ giả mạo; buộc hoàn trả cho tổ chức, cá nhân số tiền đã thu trái quy định kèm theo khoản lãi tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước tại thời điểm xử phạt.
Tăng cường bảo vệ người lao động trước các hành vi tuyển dụng lừa đảo
Trong lĩnh vực tuyển dụng và quản lý lao động, Nghị định cũng quy định cụ thể các mức xử phạt. Theo đó, phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động không khai trình việc sử dụng lao động; thu tiền của người lao động khi tham gia tuyển dụng; không cập nhật đầy đủ thông tin vào sổ quản lý lao động hoặc không xuất trình sổ khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
Mức phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng áp dụng đối với các hành vi như phân biệt đối xử trong lao động; sử dụng lao động chưa qua đào tạo hoặc chưa có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đối với các công việc yêu cầu bắt buộc; không báo cáo tình hình biến động lao động; không lập hoặc lập sổ quản lý lao động không đúng quy định.
Đặc biệt, phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với hành vi lôi kéo, dụ dỗ, hứa hẹn, quảng cáo gian dối hoặc sử dụng thủ đoạn khác nhằm lừa gạt người lao động, hoặc tuyển dụng nhằm mục đích bóc lột, cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng là buộc người sử dụng lao động hoàn trả cho người lao động toàn bộ số tiền đã thu trái quy định./.
Thái Dương (Theobaochinhphu.vn)
Chi tiết >>
Bảo hiểm y tế - lá chắn cho sức khỏe mỗi ...
BHXH Việt Nam tổ chức Hội nghị sơ kết công tác ...
Hướng dẫn đóng tiếp BHXH tự nguyện qua Cổng Dịch ...
Bảo hiểm xã hội - điểm tựa an sinh trọn đời
BHXH Việt Nam triển khai dịch chuyển, tích hợp hệ ...
Bạn có thể cho biết ý kiến về thông tin cung cấp trên Cổng thông tin của BHXH Việt Nam?
Bạn có hài lòng với nội dung thông tin cung cấp trên Cổng thông tin BHXH Việt Nam?