Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030: Nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh cho người dân
24/06/2026 08:40 AM
Hiện tại bài viết chưa được cập nhật nội dung Âm thanh. Xin cảm ơn.
Không chỉ tập trung hoàn thiện hạ tầng, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 hướng tới nâng cao chất lượng sống của người dân thông qua các giải pháp đồng bộ về thu nhập, giáo dục và an sinh xã hội. Trong đó, các chính sách BHXH, BHYT tiếp tục được xác định là những trụ cột quan trọng góp phần bảo đảm cuộc sống ổn định, bền vững cho người dân khu vực nông thôn.
Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030 hướng tới nâng cao chất lượng sống của người dân nông thôn, lấy con người làm trung tâm của quá trình phát triển, nguồn ảnh: Internet
Thu nhập trở thành thước đo quan trọng của chất lượng nông thôn mới
Sau hơn 15 năm triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, diện mạo nông thôn Việt Nam đã có những thay đổi toàn diện. Hệ thống giao thông nông thôn được đầu tư đồng bộ, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng hoàn thiện, đời sống vật chất và tinh thần của người dân từng bước được nâng lên. Từ một chương trình tập trung giải quyết những thiếu hụt cơ bản về hạ tầng, xây dựng nông thôn mới đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy việc hoàn thành các tiêu chí hạ tầng chưa đồng nghĩa với việc chất lượng sống của người dân được nâng lên tương xứng. Nhiều địa phương đã đạt chuẩn nông thôn mới nhưng thu nhập của người dân vẫn còn thấp, khả năng tiếp cận các dịch vụ chất lượng cao còn hạn chế, cơ hội phát triển kinh tế chưa thật sự đồng đều giữa các vùng miền.
Chính vì vậy, Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030 đã đặt ra yêu cầu cao hơn, chuyển trọng tâm từ xây dựng hạ tầng sang nâng cao chất lượng phát triển. Trong đó, thu nhập được xác định là tiêu chí trung tâm phản ánh hiệu quả thực chất của các chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Mục tiêu đặt ra đến năm 2030 là thu nhập bình quân của người dân nông thôn tăng từ 2,5 đến 3 lần so với năm 2020; đồng thời thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, nhất là khu vực đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đây không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế mà còn là thước đo phản ánh mức độ thụ hưởng thành quả phát triển của người dân.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, nhiều giải pháp đang được triển khai theo hướng phát triển kinh tế nông thôn đa giá trị, gắn sản xuất nông nghiệp với chế biến, thương mại, du lịch và dịch vụ. Các địa phương được khuyến khích phát triển sản phẩm đặc trưng, mở rộng các mô hình OCOP, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và kinh tế xanh nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm nông nghiệp.
Cùng với đó, việc hỗ trợ người dân tiếp cận tín dụng, khoa học kỹ thuật, thị trường tiêu thụ và các mô hình sản xuất hiệu quả tiếp tục được đẩy mạnh. Thay vì chỉ hỗ trợ sản xuất theo cách truyền thống, chương trình giai đoạn mới hướng tới việc trao cơ hội để người dân trở thành chủ thể phát triển, chủ động tham gia vào chuỗi giá trị và nâng cao thu nhập bền vững.
Sự chuyển dịch từ tư duy “đạt chuẩn” sang “sống tốt” cho thấy chất lượng cuộc sống của người dân đang trở thành mục tiêu cao nhất của xây dựng nông thôn mới. Thành công của chương trình sẽ không chỉ được đo bằng số xã đạt chuẩn mà còn bằng khả năng tạo ra sinh kế bền vững, việc làm ổn định và thu nhập ngày càng cao cho người dân nông thôn.
Đầu tư cho giáo dục và nguồn nhân lực để phát triển lâu dài
Trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế xanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, chất lượng nguồn nhân lực được xác định là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và khả năng phát triển của khu vực nông thôn trong tương lai.
Một nền nông nghiệp hiện đại không thể chỉ dựa vào lao động phổ thông. Quá trình cơ giới hóa, tự động hóa và ứng dụng công nghệ số trong sản xuất nông nghiệp đòi hỏi lực lượng lao động có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thị trường.
Đầu tư cho giáo dục và phát triển nguồn nhân lực được xem là nền tảng để xây dựng nông thôn mới bền vững, nguồn ảnh: Internet.
Nhận thức rõ điều đó, Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030 dành nhiều nguồn lực hơn cho giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nông thôn. Mục tiêu đặt ra không chỉ là bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận giáo dục mà còn hướng tới xây dựng xã hội học tập, thúc đẩy học tập suốt đời và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Các chính sách phổ cập giáo dục tiếp tục được mở rộng, đặc biệt là phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi. Đây là bước tiến quan trọng nhằm bảo đảm trẻ em khu vực nông thôn được tiếp cận giáo dục sớm, tạo nền tảng cho sự phát triển toàn diện trong tương lai.
Song song với đó, hệ thống trường học được đầu tư theo hướng hiện đại hóa, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng học trực tuyến. Những mô hình lớp học thông minh, thư viện số, học tập cộng đồng từng bước được triển khai nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức cho người dân ở mọi lứa tuổi.
Thông tư số 42/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra nhiều tiêu chí mới về giáo dục trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030. Các tiêu chí được thiết kế theo hướng linh hoạt, phù hợp với điều kiện phát triển của từng nhóm địa bàn, đồng thời đặt ra yêu cầu ngày càng cao về chất lượng giáo dục.
Đáng chú ý, tỷ lệ người trong độ tuổi từ 18 - 22 tuổi tiếp tục học tập sau trung học phổ thông được đưa vào hệ thống tiêu chí đánh giá. Điều này phản ánh quan điểm mới trong phát triển nông thôn: đầu tư cho giáo dục không chỉ để nâng cao dân trí mà còn để tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Bên cạnh giáo dục phổ thông, đào tạo nghề cho lao động nông thôn tiếp tục được chú trọng. Các chương trình đào tạo được thiết kế gắn với nhu cầu thị trường lao động, yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển nông nghiệp hiện đại. Mục tiêu là hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, có kiến thức, kỹ năng và khả năng ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất.
Khoảng cách phát triển giữa nông thôn và đô thị chỉ có thể được thu hẹp khi khoảng cách về cơ hội tiếp cận giáo dục được thu hẹp. Chính vì vậy, đầu tư cho giáo dục trong giai đoạn mới không chỉ mang ý nghĩa phát triển nguồn nhân lực mà còn là giải pháp căn cơ để bảo đảm công bằng xã hội và phát triển bền vững.
An sinh xã hội - nền tảng của phát triển nông thôn bền vững
Nếu thu nhập là thước đo mức sống và giáo dục là chìa khóa của tương lai thì an sinh xã hội chính là “tấm lưới an toàn” bảo vệ người dân trước những rủi ro trong cuộc sống. Đây cũng là một trong những trụ cột quan trọng của Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030.
BHXH, BHYT tiếp tục là những trụ cột quan trọng trong thực hiện mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội và phát triển nông thôn bền vững.
Khác với giai đoạn trước, cách tiếp cận về nghèo đói và phát triển xã hội trong giai đoạn mới đã có nhiều thay đổi. Nghèo không còn được đánh giá đơn thuần bằng thu nhập mà được nhìn nhận dưới góc độ đa chiều, bao gồm khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục, việc làm, nhà ở, nước sạch và thông tin.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và những biến động của thị trường lao động ngày càng phức tạp, việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội vững chắc trở thành yêu cầu cấp thiết để bảo đảm sự phát triển bền vững của khu vực nông thôn.
Trong hệ thống an sinh xã hội, chính sách BHXH, BHYT và BHTN giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là các chính sách hỗ trợ khi người dân gặp rủi ro mà còn là công cụ giúp phòng ngừa, chia sẻ và giảm thiểu những tác động bất lợi trong cuộc sống.
Đối với khu vực nông thôn, việc mở rộng diện bao phủ BHXH, nhất là BHXH tự nguyện, đang tạo cơ hội để người lao động khu vực phi chính thức chủ động tích lũy cho tuổi già, giảm nguy cơ rơi vào nghèo đói khi hết tuổi lao động. Luật BHXH năm 2024 với nhiều quy định mới theo hướng gia tăng quyền lợi, mở rộng diện bao phủ và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân tham gia được kỳ vọng sẽ góp phần thực hiện mục tiêu BHXH toàn dân.
Cùng với đó, chính sách BHYT tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội. Tỷ lệ bao phủ BHYT ngày càng tăng giúp người dân, đặc biệt là người dân khu vực nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo và các nhóm yếu thế được tiếp cận dịch vụ y tế khi ốm đau, giảm gánh nặng chi phí khám chữa bệnh và hạn chế nguy cơ tái nghèo do bệnh tật.
Đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất kinh doanh ở nông thôn, chính sách BHTN tiếp tục phát huy hiệu quả trong hỗ trợ người lao động khi mất việc làm, đồng thời tạo điều kiện học nghề, chuyển đổi việc làm và sớm quay trở lại thị trường lao động.
Bên cạnh việc mở rộng độ bao phủ của các chính sách BHXH, BHYT, BHTN, chương trình giai đoạn mới cũng đặc biệt quan tâm đến các nhóm dễ bị tổn thương như người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ, trẻ em và đồng bào dân tộc thiểu số. Các chính sách trợ giúp xã hội, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ sinh kế và giảm nghèo bền vững sẽ tiếp tục được triển khai đồng bộ nhằm bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.
Từ những mục tiêu về nâng cao thu nhập, phát triển giáo dục và củng cố hệ thống an sinh xã hội có thể thấy Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030 đang hướng tới một mô hình phát triển mới, trong đó con người vừa là trung tâm, vừa là động lực của sự phát triển. Thành công của chương trình sẽ được phản ánh qua chất lượng sống của người dân: thu nhập cao hơn, cơ hội học tập tốt hơn, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế thuận lợi hơn và một hệ thống an sinh xã hội đủ mạnh để bảo vệ mỗi người dân trước những rủi ro trong cuộc sống. Đó cũng chính là mục tiêu cao nhất của xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước./.
Thu Thuỷ
Chi tiết >>
Hướng dẫn đóng tiếp BHXH tự nguyện qua Cổng Dịch ...
Bảo hiểm xã hội - điểm tựa an sinh trọn đời
BHXH Việt Nam triển khai dịch chuyển, tích hợp hệ ...
BHXH Việt Nam năm 2025: Tinh gọn, hiệu quả, phục ...
Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác ...
Bạn có thể cho biết ý kiến về thông tin cung cấp trên Cổng thông tin của BHXH Việt Nam?
Bạn có hài lòng với nội dung thông tin cung cấp trên Cổng thông tin BHXH Việt Nam?