xin chào anh, chị. tôi là Nguyễn văn Bình sinh ngày 1/5/1964 (Nam) công tác tại Điện lực Hà Nội có thời gian liên tục đóng BHXH bắt buộc tính đến 8/2022 là 35 năm 6 tháng, BHTN là 15 năm 6 tháng. mức lương đóng BHXH từ 1/2017 cho đến nay 8/2022 là: 7.800.000đ do đk hoàn cảnh tôi xin chấm dứt hợp đồng lao động với cơ quan vào 1/11/2022 được cơ quan đồng ý. Vậy tôi có được hưởng trợ cấp thất nghiệp không ? sau thời gian kết thúc 12 thang hưởng trợ cấp thất nghiệp tôi muốn bảo lưu và không đóng thêm BHXH thì phải làm thủ tục gì để được hưởng chế độ Hưu trí khi đến tuổi nghỉ hưu? sau hưởng trợ cấp thất nghiệp, Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của tôi (tham gia bhxh bắt buộc trước 1/1/1995) có được tính ở 5 năm cuối không? sau khi hưởng trợ cấp thất nghiệp. Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của tôi có bị giảm không và mức lương hưu được tính như thế nào?
1.Về điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp: Tại Điều 49 Luật Việc làm quy định người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây: 1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây: a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật; b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng; 2. Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp làm việc theo Hợp đồng lao động; hợp đồng làm việc xác định thời hạn hoặc không xác định thời hạn; đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp làm việc theo Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng. 3. Đã nộp hồ sơ hưởng TCTN tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật Việc làm (trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc). 4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng BHTN, trừ các trường hợp sau đây: a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù; đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; e) Chết. - Khoản 1 Điều 45 Luật Việc làm quy định: Thời gian đóng BHTN để xét hưởng BHTN là tổng các khoảng thời gian đã đóng BHTN liên tục hoặc không liên tục được cộng dồn từ khi bắt đầu đóng BHTN cho đến khi người lao động chấm dứt HĐLĐ hoặc HĐLV theo quy định của pháp luật mà chưa hưởng TCTN. - Khoản 4 Điều 53 Luật Việc làm quy định: Người lao động bị chấm dứt hưởng TCTN thuộc các trường hợp quy định tại các điểm b, c, h, l, m và n khoản 3 Điều này được bảo lưu thời gian đóng BHTN làm căn cứ để tính thời gian hưởng TCTN cho lần tiếp theo khi đủ điều kiện quy định tại Điều 49 của Luật này. Thời gian bảo lưu được tính bằng tổng thời gian đóng BHTN trừ đi thời gian đóng đã hưởng TCTN, theo nguyên tắc mỗi tháng đã hưởng TCTN tương ứng 12 tháng đã đóng BHTN. 2. Về tuổi nghỉ hưu và điều kiện hưởng lương hưu: 2.1 Về tuổi nghỉ hưu: Theo quy định tại Điều 169 Bộ luật Lao động năm 2019 và Nghị định số 135/2020/NĐ-CP ngày 18/11/2020 của Chính phủ thì kể từ ngày 01/01/2021 tuổi nghỉ hưu đối với lao động nam làm việc trong điều kiện bình thường sẽ được điều chỉnh theo lộ trình mỗi năm tăng thêm 03 tháng cho đến khi đủ 62 tuổi vào năm 2028, cụ thể như sau: a) Tuổi nghỉ hưu của lao động nam trong điều kiện lao động bình thường: Năm 2021 là đủ 60 tuổi 03 tháng; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng cho đến khi đủ 62 tuổi vào năm 2028. b) Lao động nam có thể nghỉ hưu thấp hơn không quá 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường tại thời điểm nghỉ hưu và thuộc một trong các trường hợp dưới đây: - Người lao động có từ đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc nặng nhọc độc hại nguy hiểm (NNĐHNH) hoặc đặc biệt NNĐHNH thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành; - Người lao động có từ đủ 15 năm trở lên làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01/01/2021); - Người lao động có tổng thời gian làm nghề, công việc NNĐHNH hoặc đặc biệt NNĐHNH và thời gian làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01/01/2021) từ đủ 15 năm trở lên. - Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên; c) Lao động nam có thể nghỉ hưu thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu của người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường và thêm một trong các điều kiện sau: - Có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò. - Bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên. d) Lao động nam không bị quy định giới hạn về tuổi đời khi đã có đủ 20 năm đóng BHXH và thuộc một trong các trường hợp sau đây: - Bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp; - Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc đặc biệt NNĐHNH thuộc danh mục do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành. 2.2 Về cách tính lương hưu: Tại Điều 62 Luật BHXH năm 2014 quy định về mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu như sau: 1. Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng của số năm đóng BHXH trước khi nghỉ hưu như sau: a) Tham gia BHXH trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 05 năm cuối trước khi nghỉ hưu; b) Tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đến ngày 31 tháng 12 năm 2000 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 06 năm cuối trước khi nghỉ hưu; c) Tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 đến ngày 31 tháng 12 năm 2006 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 08 năm cuối trước khi nghỉ hưu; d) Tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 đến ngày 31 tháng 12 năm 2015 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 10 năm cuối trước khi nghỉ hưu; đ) Tham gia BHXH từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 đến ngày 31 tháng 12 năm 2019 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 15 năm cuối trước khi nghỉ hưu; e) Tham gia BHXH từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 đến ngày 31 tháng 12 năm 2024 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 20 năm cuối trước khi nghỉ hưu; g) Tham gia BHXH từ ngày 01 tháng 01 năm 2025 trở đi thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của toàn bộ thời gian. 2. Người lao động có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của toàn bộ thời gian. 3. Người lao động vừa có thời gian đóng BHXH thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH chung của các thời gian, trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH theo quy định tại khoản 1 Điều này.” Điều 61 Luật BHXH năm 2014 quy định người lao động khi nghỉ việc mà chưa đủ điều kiện để hưởng lương hưu theo quy định thì được bảo lưu thời gian đóng BHXH. Trường hợp của Bạn được bảo lưu thời gian tham gia BHXH để chờ đến khi đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định. Toàn bộ quá trình tham gia BHXH của Bạn được cơ quan BHXH ghi nhận trên sổ BHXH để làm căn cứ tính hưởng BHXH đối với Bạn sau này. Khi đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định, Bạn nộp hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 108 Luật BHXH (Sổ bảo hiểm xã hội; Đơn đề nghị hưởng lương hưu) cho cơ quan BHXH nơi cư trú để được xem xét giải quyết chế độ hưu trí theo đúng quy định
Chi tiết >>