• HỎI ĐÁP
Người gửi:
Nguyễn Thị Hằng
Ngày gửi:
09/09/2022
Lĩnh vực:
Bảo hiểm y tế
Trạng thái:
Đã trả lời
Nội dung câu hỏi:

Tôi tên là Hằng, hiện tại do tình hình sức khoẻ thai kỳ không tốt nên tôi có nghỉ việc trước khi sinh và đang nhận trợ cấp thất nghiệp. Tôi đã hoàn thành thủ tục chốt số tháng nhận trợ cấp BHTN là 3 tháng, đã nhận một tháng trợ cấp thất nghiệp, hiện tại tôi sắp đến ngày sinh nhưng vẫn chưa nhận được thẻ BHYT và cũng chưa có thông tin thẻ BHYT của tôi trên VSSID. Tôi đã liên hệ văn phòng giải quyết BHTN huyện Yên Lạc và được trả lời là lên kế toán bưu điện huyện nhận thẻ BHYT. Tuy nhiên, bên kế toán bưu điện huyện trả lời tôi là sau 3 lần đi khai báo thất nghiệp mới có thẻ BHYT (sau 3 tháng mới có thẻ BHYT thì tôi đã hết hưởng TCTN và đã sinh con), tôi có liên hệ lại với văn phòng BHTN huyện Yên Lạc và được trả lời: "sau 1 tháng là có thẻ, nếu không có thì bạn tự photo giấy tờ lên bảo hiểm y tế tỉnh Vĩnh Phúc để làm thẻ BHYT". Vậy BHXHVN cho tôi hỏi là: thứ nhất, trường hợp của tôi bên BHYT cấp muộn như vậy có đúng luật không, tôi cần làm những thủ tục gì để có thể mua được BHYT vì chỉ 3 tuần nữa là tôi sinh em bé. Thứ 2, trong giai đoạn cuối thai kỳ tôi có thể uỷ quyền người trong gia đình đi khai báo để hưởng trợ cấp thất nghiệp không? (văn phòng BHTN Yên Lạc yêu cầu chính chủ là tôi phải đến khai báo trong khi tôi đi lại rất khó khăn)

Trả lời bởi:
Ngày trả lời:
16/09/2022
File đính kèm:
Câu trả lời:

* Về hưởng BHYT trong thời gian hưởng TCTN

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Việc làm thì người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hưởng chế độ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP thì căn cứ quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, cơ quan bảo hiểm xã hội cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người lao động.

* Về thông báo tìm kiếm việc làm hằng tháng trong thời gian hưởng TCTN

Khoản 2 Điều 10 Thông tư số 28/2015/TT-BLĐTBXH quy định:

“Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp không phải thực hiện thông báo hằng tháng về việc tìm kiếm việc làm nếu thời gian thông báo về việc tìm kiếm việc làm nằm trong khoảng thời gian mà người lao động thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Nam từ đủ 60 tuổi trở lên, nữ từ đủ 55 tuổi trở lên;

b) Người lao động được xác định thuộc danh mục bệnh phải điều trị dài ngày có giấy xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền;

c) Nghỉ hưởng chế độ thai sản có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền. Riêng đối với trường hợp nam giới có vợ chết sau khi sinh con mà phải trực tiếp nuôi dưỡng con thì giấy tờ xác nhận là giấy khai sinh của con và giấy chứng tử của mẹ;

d) Đang tham gia khóa học nghề theo quyết định của Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và có xác nhận của cơ sở dạy nghề;

đ) Thực hiện hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 03 tháng.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày người lao động thuộc một trong các trường hợp tại các Điểm b, c, d, đ của Khoản này thì người lao động phải gửi thư bảo đảm hoặc ủy quyền cho người khác nộp giấy đề nghị không thực hiện thông báo hằng tháng về việc tìm kiếm việc làm theo Mẫu số 17 ban hành kèm theo Thông tư này và kèm theo bản chính hoặc bản sao có chứng thực một trong các giấy tờ theo quy định nêu trên đến trung tâm dịch vụ việc làm nơi người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, trường hợp gửi theo đường bưu điện thì tính theo ngày gửi ghi trên dấu bưu điện. Sau khi hết thời hạn của một trong các trường hợp nêu trên, người lao động phải tiếp tục thực hiện thông báo về việc tìm kiếm việc làm theo quy định”

Bảo hiểm xã hội Việt Nam cung cấp thông tin chính sách để bạn đối chiếu với trường hợp của mình. Bạn liên hệ đến Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tại địa phương nơi bạn đang hưởng TCTN để được giải đáp cụ thể.