• HỎI ĐÁP
Người gửi:
Nguyễn Hoàng Hùng
Ngày gửi:
23/03/2022
Lĩnh vực:
Hưu trí, tử tuất
Trạng thái:
Đã trả lời
Nội dung câu hỏi:

1/.Tham gia BHXH đc 29 năm, nhưng đã nghỉ việc khi chưa đến tuổi về hưu, 2028 tôi mới được hưởng lương hưu theo cách tính: 45% (20 năm) + 18% (9 năm) = 63%. Nhưng nghỉ sớm trước tuổi về hưu đến 11 năm, vậy tôi có bị trừ đi 22% k, hay vẫn giữ đc 63% lương hưu. 2/ Cách tính bình quân lương hưu là bình quân của 8 năm cuối cùng? 3/ Sổ ghi BHTN bảo lưu 9 tháng, có nghĩa là mình tham gia BHXH tiếp tục khi đi làm, mới đc cộng dồn tiếp BHTN?

Trả lời bởi:
Bảo hiểm xã hội Việt Nam trả lời
Ngày trả lời:
01/04/2022
File đính kèm:
Câu trả lời:

1. Về tuổi hưởng lương hưu:
Theo quy định hiện hành tại Điều 169, khoản 1 Điều 219 Bộ luật Lao động
năm 2019 và Nghị định số 135/2020/NĐ-CP ngày 18/11/2020 của Chính phủ, kể
từ ngày 01/01/2021 tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động
bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng
đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam
cho đến khi đủ 62 tuổi vào năm 2028 và cứ mỗi năm tăng thêm 04 tháng đối với
lao động nữ cho đến đủ 60 tuổi vào năm 2035.
Người lao động có thể nghỉ hưu thấp hơn không quá 05 tuổi so với tuổi nghỉ
hưu của người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường nếu có đủ
20 năm đóng BHXH trở lên và thuộc một trong các trường hợp dưới đây:
+ Có từ đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc nặng nhọc độc hại nguy
hiểm (NNĐHNH) hoặc đặc biệt NNĐHNH thuộc danh mục do Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội ban hành;
+ Có từ đủ 15 năm trở lên làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn (bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7
trở lên trước ngày 01/01/2021);
+ Có tổng thời gian làm nghề, công việc NNĐHNH hoặc đặc biệt
NNĐHNH và thời gian làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn (bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên
trước ngày 01/01/2021) từ đủ 15 năm trở lên.
+ Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên;
Người lao động có thể nghỉ hưu thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu
của người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường nếu có đủ 20
năm đóng BHXH trở lên và thêm một trong các điều kiện sau:
+ Có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò.
+ Bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.
Người lao động không bị quy định giới hạn về tuổi đời khi đã có đủ 20 năm
đóng BHXH và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp;
+ Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có đủ 15 năm làm nghề
hoặc công việc đặc biệt NNĐHNH thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành.
2. Tỷ lệ hưởng lương hưu:
+ Đối với lao động nam nghỉ hưu cứ 20 năm đóng BHXH được tính bằng
45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH;
+ Đối với lao động nữ nghỉ hưu cứ 15 năm đóng BHXH được tính bằng
45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH;
+ Sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH người lao động được tính thêm
2%; mức tối đa bằng 75% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH;
Việc giảm trừ tỷ lệ hưởng lương hưu do nghỉ hưu trước tuổi được quy định
như sau: Cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%. Trường hợp tuổi
nghỉ hưu có thời gian lẻ đến đủ 06 tháng thì mức giảm là 1%, từ trên 06 tháng thì
không giảm tỷ lệ phần trăm do nghỉ hưu trước tuổi.
3. Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH thực hiện theo quy định tại
Điều 62 Luật BHXH năm 2014:
- Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước
quy định có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương này thì tính
bình quân tiền lương tháng của số năm đóng BHXH trước khi nghỉ hưu như sau:
+ Tham gia BHXH trước ngày 01/01/1995 thì tính bình quân của tiền lương
tháng đóng BHXH của 05 năm cuối trước khi nghỉ hưu;
+ Tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/1995 đến ngày
31/12/2000 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 06 năm cuối
trước khi nghỉ hưu;
+ Tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2001 đến ngày
31/12/2006 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 08 năm cuối
trước khi nghỉ hưu;
+ Tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2007 đến ngày
31/12/2015 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 10 năm cuối
trước khi nghỉ hưu;
+ Tham gia BHXH từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/12/2019 thì tính bình
quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 15 năm cuối trước khi nghỉ hưu;
+ Tham gia BHXH từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2024 thì tính bình
quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 20 năm cuối trước khi nghỉ hưu;
+ Tham gia BHXH từ ngày 01/01/2025 trở đi thì tính bình quân của tiền
lương tháng đóng BHXH của toàn bộ thời gian.
- Người lao động có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương
do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng
BHXH của toàn bộ thời gian.
- Người lao động vừa có thời gian đóng BHXH thuộc đối tượng thực hiện
chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng BHXH theo chế
độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương
tháng đóng BHXH chung của các thời gian, trong đó thời gian đóng theo chế độ
tiền lương do Nhà nước quy định được tính bình quân tiền lương tháng đóng
BHXH theo quy định nêu trên.
Việc giải quyết hưởng chế độ hưu trí phụ thuộc vào nhiều yếu tố (giới tính,
điều kiện lao động, thời điểm đề nghị giải quyết chế độ BHXH, tỷ lệ suy giảm
khả năng lao động (nếu có) …). Do Bạn không cung cấp đầy đủ thông tin về điều
kiện hưởng của bản thân nên BHXH Việt Nam không đủ căn cứ để trả lời cụ thể.
BHXH Việt Nam cung cấp một số quy định của pháp luật về việc giải quyết hưởng
chế độ hưu trí để Bạn được biết.
4. Về việc bảo lưu thời gian tham gia BHTN chưa hưởng:
Tại điểm 7 khoản 2 Điều 18 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/03/2015
của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật việc làm về BHTN
quy định người lao động có thời gian đóng BHTN trên 36 tháng thì những tháng
lẻ chưa giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp được bảo lưu làm căn cứ để tính thời
gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo khi đủ
điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.
Trường hợp của Bạn có 9 tháng tham gia BHTN chưa hưởng đã được ghi
nhận trên sổ BHXH, khi Bạn quay trở lại làm việc và tiếp tục tham gia BHTN
thời gian này sẽ được bảo lưu để làm căn cứ tính thời gian hưởng trợ cấp thất
nghiệp cho lần tiếp theo khi Bạn đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy
định