QĐ 23 chỉ quy định là NLĐ ngừng việc theo khoản 3, điều 99 BLLĐ, cách ly theo QĐ của cơ quan y tế, không thấy quy định là trong thời gian ngừng việc có được đóng BHXH hay không? Vậy trường hợp NLĐ đáp ứng điều kiện QĐ 23 về hỗ trợ ngừng việc và trong thời gian ngừng việc, NSDLĐ có trả lương và đóng BHXH cho NLĐ thì NLĐ có được hưởng hỗ trợ ngừng việc theo QĐ 23 cùng với chế độ ốm đau (vì vẫn đóng BHXH) không? Cơ sở cho việc được nhận hay không được nhận này ở đâu? Bởi vì xét đối tượng, điều kiện trong QĐ 23 chỉ quy định trường hợp NLĐ ngừng việc chứ không quy định NLĐ đóng BHXH trong thời gian ngừng việc thì không được nhận hỗ trợ này. Xin cảm ơn.
- Về việc đóng BHXH trong thời gian ngừng việc: Tại khoản 1, khoản 2 Điều 90, khoản 3 Điều 99 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2021) quy định: Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Mức lương theo công việc hoặc chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu. Trường hợp người lao động phải ngừng việc do dịch bệnh nguy hiểm thì người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận về tiền lương ngừng việc như sau: trường hợp ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở xuống thì tiền lương ngừng việc được thỏa thuận không thấp hơn mức lương tối thiểu; trường hợp phải ngừng việc trên 14 ngày làm việc thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng phải bảo đảm tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu. Theo khoản 6 Điều 30 Thông tư số 59/2015/Tt-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định: “Trong thời gian người lao động ngừng việc theo quy định của pháp luật về lao động mà vẫn được hưởng tiền lương thì người lao động và người sử dụng lao động thực hiện đóng BHXH bắt buộc theo mức tiền lương người lao động được hưởng trong thời gian ngừng việc”. Như vậy, đối với trường hợp người lao động ngừng việc do dịch bệnh mà vẫn được hưởng tiền lương thì thực hiện đóng BHXH bắt buộc theo quy định nêu trên. - Về chế độ ốm đau trong thời gian ngừng việc: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 25 Luật BHXH năm 2014 thì điều kiện hưởng chế độ ốm đau là người lao động đang tham gia BHXH bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định. Đồng thời, điểm c khoản 2 Điều 3 Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định không giải quyết hưởng chế độ ốm đau đối với trường hợp người lao động bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động trong thời gian đang nghỉ phép hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương theo quy định của pháp luật lao động. Như vậy thời gian người lao động nghỉ ốm, nghỉ DSPHSK ngoài thời gian nghỉ phép hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương vẫn được giải quyết hưởng chế độ ốm đau, DSPHSK theo quy định. Tuy nhiên, đối với thời gian người lao động nghỉ ốm, nghỉ DSPHSK trùng với thời gian ngừng việc do dịch bệnh hiện nay chưa có hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.BHXH Việt Nam đã có Công văn số 3404/BHXH-CSXH ngày 29/10/2021 xin ý kiến Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việc giải quyết chế độ ốm đau, thai sản, DSPHSK đối với người lao động trong thời gian nghỉ ngừng việc do dịch Covid-19, sau khi có hướng dẫn của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội BHXH Việt Nam sẽ hướng dẫn BHXH các tỉnh, thành phố thực hiện để kịp thời giải quyết chế độ đối với người lao động. - Về việc hưởng hỗ trợ ngừng việc theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg không thuộc thẩm quyền của cơ quan BHXH. Đề nghị Bạn liên hệ với cơ quan LĐTBXH ở địa phương để được giải đáp cụ thể
Chi tiết >>